Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động thanh niên.Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Chương 4. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” cho thấy trong những năm gần đây, vấn đề xuất khẩu lao động và quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động thanh niên nói chung, thanh niên tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng được các nhà quản lý, nhà khoa học, đặc biệt các nhà nghiên cứu quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở phạm vi trong nước đã được công bố đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng của QLNN đối với xuất khẩu lao động, tiêu biểu như: - Nguyễn Văn Mạnh(2015): “Quản lý nhà nước về Giải quyết việc làm đối với thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” – luận văn Thạc sỹ Quản lý công; Luận văn đã nêu ra tổng quan tình hình lao động, việc làm, và giải quyết việc làm của Vĩnh Phúc đối với người lao động nói chung, đặc biệt là lao động thanh niên. Dựa trên việc đánh giá cung, cầu lao động, luận văn đã đánh giá chi tiết thị trường lao động Vĩnh Phúc, những chính sách nổi bật, mặt mạnh, yếu của các chính sách, trong đó có chính sách đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Giải quyết việc làm cho thanh niên. Tuy nhiên, đề tài chỉ đề cập đến vấn đề Xuất khẩu lao động thanh niên như một khía cạnh của giải quyết việc làm thanh niên, chưa đi sâu, phân tích chi tiết các chính sách riêng về xuất khẩu lao động thanh niên.
- Trương Thị Thúy Hà (2008): Tác động của Xuất khẩu lao động tới đời 5 z sống người dân (Nghiên cứu trường hợp xã Tứ Trưng, Huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) đăng trên Việt Nam học – Kỷ yếu hội thảo trang 521; Tác giả đã nghiên cứu những động lực nào khiến lao động nói chung và người dân xã Tứ Trưng nói riêng quyết định xa xứ để đi xuất khẩu lao động. Những khó khăn và cuộc sống của người lao động tại nước sở tại và sau khi đi thì cuộc sống của họ và gia đình thay đổi ra sao, việc họ tái hòa nhập cộng đồng khó khăn như thế nào. Bài nghiên cứu đã đưa ra một bức tranh chung về thực trạng xuất khẩu lao động nói chung dựa trên thực trạng xuất khẩu lao động tại xã Tứ Trưng, tuy nhiên, tác giả chỉ đưa ra thực trạng, không đi sâu vào phân tích nguyên nhân để đưa ra giải pháp. - Nguyễn Duy Hiếu(2014): “Tăng cường quản lý hoạt động Xuất khẩu lao động tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020” – luận văn Thạc sỹ Quản lý Kinh tế; Luận văn đã đánh giá khách quan về hoạt động xuất khẩu lao động của Vĩnh Phúc từ những năm 2014 trở về trước, từ đó đưa ra các định hướng, các chính sách khuyến nghị cho tỉnh nhằm tăng cường việc quản lý hoạt động Xuất khẩu lao động của tỉnh, giúp tháo gỡ những khó khăn của lao động Vĩnh Phúc khi đi xuất khẩu lao động.
Tuy nhiên, 2014 là năm mà tỉnh Vĩnh Phúc bắt đầu đẩy mạnh việc quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động với hàng loạt các chính sách đưa ra nhằm đẩy mạnh hoạt động này. Cho đến nay, tình hình Xuất khẩu lao động đã có những chuyển biến mới, nhiều chính sách chưa phù hợp đã được điều chỉnh và thay thế bằng các chính sách phù hợp hơn, vì vậy cần có những nghiên cứu mới phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Ngoài ra, còn một sốcông trình nghiên cứu, chuyên đề, bài báokhác của Vĩnh Phúc đã tiếp cận vấp đề xuất khẩu lao động ở nhiều góc độ. Nhiều công trình nghiên cứu có bàn đến vai trò quản lý của Nhà nước, nhưng mới chỉ dừng lại ở mức tổng quan, hoặc chỉ có đề cập đến như là một trong những giải pháp để 6 z giải quyết việc làm, chưa tập trung đi sâu phân tích về quản lý Nhà nước hoạt động Xuất khẩu lao động thanh niên.
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về “Quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” dưới góc độ quản lý nhà nước. Cơ sở lý luận QLNN về Xuất khẩu lao động thanh niên 1. Các khái niệm, đặc điểm, vai trò của xuất khẩu lao động 1. Các khái niệm Ngƣời lao động Theo khoản 1 điều 3 Bộ luật lao động 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” Xuất khẩu lao động: Cách đây hàng thế kỷ, hiện tượng cư dân của nước này sang nước khác vì lý do kinh tế, chủ yếu là để kiếm công ăn việc làm đã xuất hiện.Dần dần, nhận thấy đây là một ngành kinh doanh rất béo bở, nhiều công ty quốc gia hoặc đa quốc gia đã hình thành để mua, bán sức lao động.
Tùy vào góc độ nghiên cứu khác nhau, có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các khái niệm về xuất khẩu lao động, tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của luận văn, tác giả xin đưa ra khái niệm: “Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế dưới hính thức cung ứng lao động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng lao động có thời hạn, phục vụ cho nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp ở nước ngoài” Quản lý nhà nƣớc về Xuất khẩu lao động thanh niên: Quản lý nhà nướclà hoạt động chủ yếu của cơ quan chấp hành quyền lực 7 z nhà nước. QLNN là sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân, là sự quản lý về chính trị - xã hội. QLNN là một quá trình phức tạp, đa dạng và là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển ngày càng cao thì nhu cầu quản lý càng lớn, nội dung quản lý càng tinh vi, hiện đại Quản lý nhà nước về Xuất khẩu lao động thanh niên có thể được hiểu là: Đưa hoạt động xuất khẩu lao động thanh niên dưới sự điều hành và quản lý của nhà nước.
Hay nói cách khác QLNN về Xuất khẩu lao động thanh niên là sự tác động của Nhà nước bằng cơ chế, chính sách và các biện pháp tổ chức thực hiện để thực hiện mục tiêu Xuất khẩu lao động thanh niên, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã đặt ra, trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế 1. Các đặc điểm của xuất khẩu laođộng Thứ nhất, xét về mặt kinh tế thì XKLĐ có mục đích là để đem lại nguồn ngân sách và lợi ích lớn cho các quốc gia, chính vì thế nó gắn liền với sự phát triển kinh tế của mỗi đất nước. Và đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường như ngày nay, XKLĐ cũng được xem là một hàng háo và chịu sự chi phối của quy luật thị trường. Điều đó có nghĩa là chất lượng của nguồn nhân lực càng cao như thể lực, tay nghề, ngoại ngữ, phong cách làm việc, hiểu biết luật pháp.càng cao thì càng được thị trường nước ngoài chấp thuận.
Thứ hai, XKLĐ là hoạt động chuyển dịch lao động từ nước dư thừa sang nước thiếu nguồn nhân lực trong một thời gian nhất định và có kế hoạch từ trước. Vì thế, XKLĐ cũng được hiểu là sự hợp tác lao động giữa các nước với nhau. Thứ ba, trong quá trình XKLĐ, người lao động hoàn toàn làm chủ sức lao động của mình và sau thời gian theo như ký hết hợp đồng XKLĐ thì người lao động vẫn trở về nước để tái hòa nhập cộng đồng nên người lao động cần lưu ý đặc điểm này để bảo vệ quyền lợi của mình tại nước ngoài. 8 z Thứ tư, XKLĐ muốn hiệu quả phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lỹ vĩ mô của Nhà nước và quản lý vi mô của doanh nghiệp.
Vì hoạt động XKLĐ được hình thành trước tiên nhờ sự ký kết giữa các chính phủ sau đó tạo nên hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp. Từ đó, các doanh nghiệp mới có thể tìm kiếm các hợp đồng lao động, lên kế hoạch tuyển chọn, đào tạo quản lý người lao động khi tham gia XKLĐ. Chính vì thế, việc kết hợp một cách chặt chẽ giữa các Bộ, ban ngành và doanh nghiệp, người lao động là vô cùng cần thiết. Thứ năm, tất cả các bên khi tham gia vào hoạt động XKLĐ đều thu lại được lợi ích cho mình.
Đối với nước XKLĐ thì lợi ích chính là từ ngoại tệ người lao động gửi về, mở rộng quan hệ ngoại giao, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp trong nước, làm giảm bớt áp lực giải quyết việc làm cho chính phủ, đồng thời người lao động sau khi về nước cũng là những lao động có tay nghề cao, được học hỏi tiến bộ từ các nước phát triển. Đối với nước nhập khẩu là giải quyết được việc thuê được nguồn nhân lực trẻ, chi phí thấp. Các doanh nghiệp đươc lợi từ phí đào tạo, lệ phí. Và đối với người lao động chính là nguồn thu nhập cao hơn so với khi làm việc trong nước.
Từ những lợi ích đã đưa ra, các chính sách XKLĐ và các tổ chức, các nhân khi tham gia XKLĐ cần phải kết hợp hài hòa để duy trì hoạt động này sao cho hiệu quả nhất, cân bằng được giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, lợi ích với đối tác. Vai trò QLNN về Xuất khẩu lao động thanh niên Từ những chính sách của Nhà nước về thanh niên nói chung và QLNN về Xuất khẩu lao động thanh niên nói riêng có thể thấy Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề này và càng ngày nó càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình: Một là: góp phần vào giải quyết việc làm đặc biệt là cho thanh niên.