lời mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong 3 chương như sau: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về năng suất cận biên của lao động và di chuyển lao động quốc tế Chƣơng 2: Thực trạng di chuyển lao động Việt Nam sang các nƣớc ASEAN dựa trên lý thuyết năng suất cận biên của lao động Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp thúc đẩy di chuyển lao động Việt Nam sang các nƣớc ASEAN 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG SUẤT CẬN BIÊN CỦA LAO ĐỘNG VÀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ 1.1 Những vấn đề chung về năng suất cận biên của lao động 1.1 Khái niệm cơ bản về năng suất cận biên của lao động Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sản lượng đầu ra của nền kinh tế là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong kinh tế học. Có thể thấy, vốn và lao động là những nguồn lực khan hiếm và cần thiết của quá trình sản xuất (QTSX). Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, sản lượng đầu ra sẽ phụ thuộc vào quy mô đầu vào của những nhân tố hiện hữu này. Mối quan hệ giữa một bên là quy mô đầu vào và bên khác là sản lượng đầu ra được thể hiện qua hàm sản xuất đơn giản nhất của nền kinh tế, Q = Q(K,L) (Ronald G.
Trong đó, L là ký hiệu của lao động – tức nhân tố con người được sử dụng trong quá trình sản xuất. K là ký hiệu của vốn hay tư bản như văn phòng, máy móc, công cụ…. Sự thay đổi của sản lượng đầu ra liên quan đến việc sử dụng thêm một đơn vị yếu tố đầu vào được hiểu là năng suất cận biên của yếu tố đầu vào đó. Xem xét một ví dụ ở cấp độ doanh nghiệp, giả sử với điều kiện các yếu tố khác không đổi, một doanh nghiệp hiện có 10 nhân viên và sản xuất ra 100 sản phẩm mỗi ngày.
Khi có thêm nhân viên thứ 11 thì tổng sản phẩm sản xuất được mỗi ngày là 108 sản phẩm. Do đó, NSCB của nhân viên thứ 11 này là 8 sản phẩm mỗi ngày. Như vậy, năng suất cận biên của lao động hay còn gọi là sản phẩm cận biên của lao động (MPL) chính là mức sản lượng tăng thêm khi sử dụng thêm một đơn vị lao động đầu vào biến đổi với điều kiện giữ nguyên mức sử dụng các yếu tố đầu vào khác. Công thức tính năng suất cận biên của lao động ) (Ronald G.
Ehrenberg,2012) 𝑆ố 𝑡ℎ𝑎𝑦 đổ𝑖 𝑣ề 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑠ả𝑛 𝑙ượ𝑛𝑔 ΔQ MPL= = 𝑆ố 𝑡ℎ𝑎𝑦 đổ𝑖 𝑣ề 𝑠ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 ΔL 9 Khi sản phẩm được tạo ra bán trên thị trường hàng hóa thì giá trị bằng tiền của sản lượng gia tăng nhờ việc sử dụng thêm một đơn vị lao động chính là giá trị năng suất cận biên của lao động (VMPL). Nói cách khác, giá trị năng suất cận biên của lao động được xác định: VMPL = giá của sản phẩm x NSCB của lao động (Carbaugh, 2002). Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo giá cả không đổi (Carbaugh, 2002), VMPL =thay đổi giá trị của tổng sản lượng đầu ra /số thay đổi về số lượng lao động 1.2 Lý thuyết năng suất cận biên của lao động Khi đưa ra quyết định về số lượng một nhân tố đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất (QTSX), các doanh nghiệp trong nền kinh tế quan tâm đến giá của nhân tố đó, cũng chính là chi phí sản xuất. Một lý thuyết giải thích vấn đề này và được các nhà kinh tế học công nhận rộng rãi chính là lý thuyết năng suất cận biên.
Ý tưởng về lý thuyết NSCB bắt nguồn từ Ricardo và West với khái niệm NSCB được ẩn trong lý thuyết về địa tô của Ricardo. Do ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế đương thời, cả hai nhà nghiên cứu mới dừng ở việc áp dụng NSCB cho đất đai. Mãi cho đến cuối thế kỷ XIX, lý thuyết này được phát triển trở lại bởi các nhà kinh tế học như J. Các ông chỉ ra rằng giá của một yếu tố sản xuất phụ thuộc vào NSCB của yếu tố đó và chính là phần thưởng cho sự đóng góp của yếu tố vào tổng sản lượng đầu ra.
Như vậy, khi tiến hành thuê thêm lao động, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa chi phí thuê lao động,thể hiện ở mức tiền công, và lợi ích mà người lao động (NLĐ) đem lại cho doanh nghiệp, tức NSCB của người lao động đó. Lý thuyết này ban đầu được sử dụng để xác định mức tiền công trả cho công nhân và được tiếp tục phát triển để giải thích cho giá cả của các nhân tố sản xuất khác như vốn, đất đai… Trên giác độ vĩ mô khi xem xét tổng thể toàn nền kinh tế, lý thuyết NSCB được nghiên cứu với giả định cơ bản về một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo và sản xuất duy nhất một loại hàng hóa. Trong nền kinh tế này, chỉ có hai yếu tố tham gia vào QTSX là lao động và vốn; trong đó vốn được giả định là nhân tố không đổi, lao động là nhân tố biến đổi.1 cho thấy tổng sản lượng đầu ra (Q) 10 tăng lên khi số lượng lao động (L) được sử dụng nhiều hơn. Theo đó, mức sản lượng gia tăng bằng việc bổ sung thêm lao động đầu vào và giữ yếu tố khác không đổi chính là NSCB của lao động như đã đề cập ở phần trước.1: Mô hình hàm sản xuất Nguồn:Paul R.Krugman (2003), International Economics: Theory and Policy Từ hình 1.1, với một lượng vốn sẵn có, khi số lượng lao động tham gia QTSX tăng lên sẽ dẫn đến thời gian chờ đợi, thời gian chết nhiều hơn do việc phối hợp giữa các lao động trở nên phức tạp hơn; máy móc không được nghỉ ngơi bảo dưỡng khiến cho tuổi thọ giảm đi… Trong kinh tế học, người ta giả định rằng không có yếu tố thừa ở đây, vì vậy việc bổ sung thêm lao động sẽ làm cho các yếu tố cố định như vốn, đất đai, không gian… để kết hợp với lao động giảm xuống.
Việc kết hợp khó khăn hơn khiến sản phẩm tăng thêm từ mỗi đơn vị lao động bổ sung sẽ giảm dần. Có cùng nội dung như hình 1.1 nhưng được thể hiện theo một cách khác, hình 1.2 phản ánh cụ thể hơn về quy luật năng suất biên của lao động.2, trục hoành thể hiện quy mô lao động trong nền kinh tế, trục tung thể hiện NSCB của lao động.2: Năng suất cận biên của lao động Nguồn:Paul R.Krugman (2003), International Economics: Theory and Policy Đường cong MPL là một đường dốc xuống từ trái sang phải, thể hiện NSCB của lao động giảm dần. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo giá cả không đổi (Carbaugh, 2002), do NSCB giảm dần nên đường giá trị NSCB của lao động cũng là một đường cong xuống.3: Giá trị năng suất cận biên của lao động Nguồn:Robert Carbaugh (2002), International Economics Theo hình 1.3, giá trị NSCB phản ánh số tiền nhà sản xuất nhận được từ việc 12 bán lượng sản phẩm mà NLĐ cuối cùng được tuyển dụng tạo ra. Đường cong VMPL cũng chính là đường cầu lao động.
Một nguyên tắc trong kinh tế là trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo nhà sản xuất sẽ tuyển số lượng lao động tới đúng điểm E như hình 1. Tại điểm E, giá của lao động (mức tiền công) chính bằng giá trị NSCB của nhân tố này. Do đó, khi quy mô LLLĐ của nền kinh tế là OL thì giá trị NSCBcủa lao động sẽ là LE. Mức tiền công sẽ được xác định bằng giá trị NSCB LE và do đó mức tiền công cân bằng sẽ được thiết lập trên thị trường bằng OW (với OW = LE).
Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng ta giả định về hai nhân tố sản xuất là vốn và lao động. Tổng thu nhập của toàn nền kinh tế (giá trị sản lượng đầu ra) từ việc sử dụng một lượng lao động nhất định với một lượng vốn cố định chính là phần diện tích nằm bên dưới đường VMPL. Tổng tiền công thanh toán NLĐ trong toàn nền kinh tế được thể hiện bằng hình chữ nhật OLEW. Có thể nói, tiền công cũng chính là biểu hiện về mặt giá trị của NSCB của lao động.
Phần diện tích còn lại AWE nằm dưới đường VMPL là thu nhập dành cho chủ sở hữu vốn. Như vậy, NSCB của lao động giảm dần khi gia tăng lượng lao động sử dụng và với một quy mô lao động cho trước, giá trị NSCB của lao động sẽ được thể hiện qua mức tiền công trên thị trường.3 Các nhân tố tác động đến năng suất cận biên của lao động Năng suất cận biên của lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Dễ thấy, khi NSCB tại một mức lao động cho trước thay đổi, đường năng suất biên (MPL) cũng sẽ dịch chuyển và giá trị NSCB cũng thay đổi theo. Dựa trên cách tiếp cận này, nhân tố tác động đến NSCB của lao động bao gồm các nhóm cơ bản sau: Thứ nhấtlà nhân tố vốn sản xuất: Mỗi đường năng suất biên của lao động gắn liền với một lượng vốn (bao gồm đất đai, nhà xưởng và thiết bị) cố định.
Sự thay đổi về lượng vốn sẽ dẫn đến sự dịch chuyển của đường năng suất biên của lao động. Với sự gia tăng về lượng vốn, mỗi lao động có thêm nhiều tư bản để kết hợp cùng trong QTSX. Do vậy, năng suất biên của lao động sẽ lớn hơn. Thứ hailà trình độ khoa học công nghệ:Khoa học công nghệ có tác động lớn đến QTSX.
Khi khoa học công nghệ phát triển, những tiến bộ này sẽ khiến năng 13 suất biên của lao động tại mỗi mức lao động ban đầu gia tăng ngay cả khi các yếu tố sản xuất khác vẫn giữ nguyên như cũ. Điều này xuất phát từ việc tiền bộ công nghệ giúp mỗi lao động sản xuất được nhiều sản phẩm hơn. Thứ balà nhân tố vốn con người: Theo định nghĩa, vốn con người ở đây là “những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động. Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình NLĐ tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua NSLĐ và hiệu quả công việc của họ”.
Việc tích lũy vốn con người có thể tạo ra hiệu suất kinh tế tăng theo quy mô thông qua việc gia tăng hiệu suất và năng suất đầu vào là lao động và vốn vật chất. Cụ thể, với mức vốn như cũ và trình độ khoa học công nghệ không đổi, vốn con người gia tăng giúp NLĐ sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực khan hiếm và tạo ra nhiều sản phẩm hơn, làm gia tăng mức NSCB tại mỗi mức cho trước. Vốn con người cũng góp phần thúc đẩy tiến bộ công nghệ.