Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. - Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. - Chương 3: Biện pháp quản lý xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Kết luận và khuyến nghị.
Danh mục tài liệu tham khảo. Phụ lục 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA TẠI HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài Vào đầu những năm 1970 “Tiêu chuẩn quốc tế phân loại giáo dục” (ISCED) được thiết kế bởi UNESCO để phục vụ như một công cụ thích hợp để lắp ráp, lập và trình bày số liệu thống kê của giáo dục cá nhân cả trong nước và quốc tế.
Nó đã được sự chấp thuận của Hội nghị Quốc tế về giáo dục (Geneva, 1975). Sau đó đã được xác nhận bởi UNESCO (Paris, 1978). ISCED được thành lập vào năm 1970 để phục vụ như một công cụ kết hợp, biên soạn, biên soạn thống kê và đến những năm tiếp theo có nhiều phiên bản mới. Phiên bản đầu tiên, được gọi là bảng phân loại năm 1976, được sự chấp thuận của hội nghị quốc tế về giáo dục (Genneva, 1975), và sau đó đã được xác nhận bởi 19 Hội nghị của UNESCO năm 1976.
Phiên bản thứ hai, được gọi là bảng phân loại năm 1997, được sự chấp thuận của Đại hội đồng UNESCO tại phiên họp thứ 29 của mình trong tháng 11 năm 1997 như một phần của nỗ lực để tăng tính so sánh quốc tế về thống kê giáo dục. Sự phân loại chủ yếu theo hai lĩnh vực là cấp học và nội dung kiến thức. Viện thống kê UNESCO phát triển phiên bản thứ 3, được thông qua bởi Hội nghị lần thứ 36 chung của UNESCO trong tháng 11 năm 2011 ờ ờ và thế thì ISCED năm 1997. Từ đây xây dựng được giải pháp Phát triển giáo dục cho từng nước và nền giáo dục chung của thế giới.
Bộ sưu tập chương trình của UNESCO luôn được điều chỉnh để có các tiêu chuẩn phù hợp. các nước thành viên được mời để áp dụng trong các báo cáo thống kê giáo dục để tăng tính so sánh quốc tế, tăng cương sự phối hợp giữa các quốc gia. Phận loại tiêu chuẩn giáo dục quốc tế góp phần xây dựng hệ thống giáo dục trở nên chặt chẽ hơn với nhiều cấp học, phân loại giáo dục hiện nay có 8 cấp độ: Cấp 0 (ISCED 0): Giáo dục mầm non. Cấp 1 (ISCED 1): Tiểu học.
Cấp 2 (ISCED 2): Trung học cơ sở. Cấp 3 (ISCED 3): Trung học phổ thông. Cấp 4 (ISCED 4): Giáo dục sau trung học phổ thông- không phải bậC 3. Cấp 5 (ISCED 5): Bậc 3 ngắn hạn.
Cấp 6 (ISCED 6): Cử nhân hoặc tương đương. Cấp 7 (ISCED 7): Thạc sĩ hoặc tương đương. Cấp 8 (ISCED 8): Tiến sĩ hoặc tương đương. 6 Ở mỗi cấp học đều có tiêu chí phân loại.
Đối với trung học cơ sở chuẩn xây dựng các tiêu chí như sau: - Các tiêu chí chính: + Hình thành các môn học, học sinh học tập theo các môn học và sử dụng nhiều giáo viên theo các chuyên môn khác nhau. + Nhà trường hoàn thành đầy đủ các kỹ năng cơ bản và tạo nên tảng giáo dục suốt đời cho người học. - Các tiêu chí hỗ trợ: + Nhập học 6 năm ở tiểu học đã hoàn thành chương trình tiểu học. + Kết thúc bậc học sau 9 năm học kể từ khi bắt đầu học tiểu học.
+) Kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc (phổ cập). + Giáo viên dạy theo các môn học chuyên môn. a) hệ thống giáo dục ở Singapore Không ngạc nhiên khi Singapore là một trong hai nước Châu Á (Cùng với Nhật Bản) được công nhận Top 21 quốc gia có nền giáo dục tốt nhất toàn cầu (Theo U. New & World Report 2021) [37].
Theo bảng xếp hạng THE (Times Higher Education), Đại học quốc gia Singapore xếp thứ 25, Đại học công nghệ Namyang giữ vị trí 48, trong bảng xếp hạng các trường tốt nhất thế giới năm 2020. Xếp hạng này đứng trên 5 tiêu chí như sau: Đào tạo (chiếm 30% số điểm). Trích dẫn (chiếm 30% số điểm). Hiện diện quốc tế (chiếm 7,5% số điểm).
Và nguồn thu từ hợp tác với doanh nghiệp hay hiệu quả chuyển giao trí thức (chiếm 2,5% số điểm). Ngoài ra theo bảng xếp hạng Economist Intelligence Unit (EIU) công bố chỉ số đánh giá chất lượng giáo dục. Trong việc giúp học sinh, sinh viên tuổi từ 15 đến 24 chuẩn bị tốt cho công việc tương lai. Thì Singapore đạt được những chỉ số cao nhất trong khu vực châu á với 80,1/100 điểm.
Singapore xếp thứ 5 trong tổng số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá sau New Zealand (88,9), Canada (86,7), Phần Lan (85,5) và Thụy Sĩ (8 1,5). Còn nếu chỉ xét về Singapore được đánh giá tốt nhất thế giới với 88,8 điểm. Hai vị trí tiếp theo thuộc về New Zealand (87,5) và Canada (87). Các trường của Singapore chứ nổi trội về số lượng như Anh, Úc, Mỹ trong các bảng xếp hạng.
Tuy nhiên chất lượng đào tạo của Singapore không thua kém bất cứ một quốc gia phát triển nào ở Âu, Mỹ. 7 Giáo dục Singapore hồi đầu các tiêu chuẩn sau: + Chuẩn mực giáo dục. + Môi trường học tập năng động, sáng tạo, được sự hỗ trợ của giáo viên. + Có thể học chuyển tiếp hay học tại Singapore vẫn lấy được các bằng cấp của Mỹ, Anh, Úc, Canada.
Các chương trình học: + Ở bậc trung học: Chương trình học ở bậc trung học của singapore nổi danh trên thế giới về khả năng phát triển cho học sinh lối tư duy sâu và các kỹ năng trí tuệ. Học sinh nước ngoài được chấp nhận theo học chương trình trung học công lập hoặc tư thục và phải thi đầu vào. + Bậc cao đẳng: Các trường cao đẳng đều có các khóa học đa dạng như kinh doanh, công nghệ thông tin, cơ khí, truyền thông đại chúng, thiết kế, viễn thông. Sinh viên tốt nghiệp từ các trường cao đẳng được các nhà tuyển dụng săn tìm, vì họ có thể hòa nhập ngay vào môi trường làm việc nhờ được trang bị kỹ năng thực hành và kinh nghiệm liên quan.
+ Bậc đại học: Các trường đại học công lập tại Singapore được đánh giá rất cao trên thế giới. Ngoài ra, Singapore còn có hệ thống các trường đại học quốc tế phong phú giúp sinh viên có nhiều lựa chọn phù hợp cho riêng mình. b) Hệ thống giáo dục ở Nhật Bản Với chính sách “Không đẩy một đứa trẻ nào trong gia đình và không để một gia đình nào trong cộng đồng không được giáo dục”. Hệ thống giáo dục Nhật Bản hiện hành đã được thiết lập ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai vào giữa năm 1947 và 1950, lấy hệ thống của Mỹ làm kiểu mẫu.
Nhật Bản hướng đến sự bảo đảm phát triển hài hòa của trẻ em về mọi mặt từ trái tim, trí tuệ, tình cảm, tinh thần, thái độ hệ thống giá trị, nhân văn và trở thành triết lý giáo dục cơ bản (kokoko) của nước Nhật. Hệ thống giáo dục Nhật Bản bao gồm: 6 năm cấp I, 3 năm cấp II, 3 năm cấp III và 4 năm đại học. Trong đó, hệ thống giáo dục bậc tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc, do đó mọi trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi phát đến trường[36]. Hệ thống giáo dục Nhật Bản phân thành các bậc: PHỔ THÔNG + Tiểu học và trung học cơ sở: Ở Nhật Bản khi trẻ em đủ tuổi đi học sẽ nhận được thông báo từ cơ quan nhà nước quản lý trên địa bàn sinh sống và tiến hành các thủ tục như khám sức khỏe để chuẩn bị cho việc nhập học.
bậc tiểu học và trung học là giáo dục bắt buộc nên những gia đình có con em mang quốc tịch Nhật Bản. Ở trường hợp nhập học tại trường do tỉnh thành lập thì không mất học phí nhưng phải mất tiền ăn. Hầu hết khi học xong các trường tiểu học và trung học cơ sở Quốc lập 8 thì có thể học đại học mà không cần thi tuyển đầu vào. Trường hợp công dân trên 16 tuổi chưa có quốc tịch Nhật Bản hoặc người lao động học bổ túc trung học vào buổi tối cũng có thể học đại học.
Đối với những người không thể tốt nghiệp tiểu học hay trung học ở nước mình cùng có thể học đại học. Hoàn toàn không cần lo lắng về học phí hay trình độ học vấn [36]. + Trung học phổ thông: Trường phổ thông trung học học trong 3 năm (đối với hình thức học bán thời gian hay học từ xa phải mất trên 3 năm). Đặc biệt sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở bạn có thể học tiếp lên phổ thông trung học (cấp 3) hay trường trung học chuyên nghiệp (trường nghề).
Tuy nhiên vì không phải là giáo dục bắt buộc nên nếu muốn học tiếp thì phải đăng ký dự tuyển. Tại Nhật, trường trung học dạy các kỹ năng chuyên môn để đi làm: Trung học Nông nghiệp, Trung học Công nghiệp, Trung học, Thương mại,….; Trường trung học chuyên nghiệp (trung cấp dạy nghề) kéo dài trong 5 năm học chuyên sâu hơn về chuyên môn. Học viên sau khi tốt nghiệp có thể đi làm ngay hoặc liên thông lên đại học. Các chuyên ngành đào tạo phổ biến bao gồm: ông nghiệp, ngành thương thuyền, điện tử, hàng hải.
Trung học bán thời gian và trung học đào tạo từ xa sau khi tốt nghiệp vẫn đủ tư cách dự thi vào trường cao đẳng hay đại học [36]. Giáo dục bậc cao Các cơ sở giáo dục sau trung học phổ thông: + Trường kỹ thuật chuyên nghiệp. + Trường dạy nghề (khóa học chuyên môn Trường dạy nghề). Tùy vào cơ quan thành lập trường, các cơ sở giáo dục được chia thành: + Quốc lập: do nhà nước quản lý.
+ Tỉnh lập: các trường do chính quyền địa phương như các tỉnh thành lập và quản lý. + Dân lập: do tư nhân thành lập và quản lý. Từ những năm 1970 trở lại đây, Nhật Bản đã có những chính sách cụ thể để hạn chế sự cạnh tranh hỗn loạn của các loại hình dân lập này, bảo đảm chất lượng của sinh viên đại học khi ra trường. Hiện nay có tất có cả khoảng 60 trường cao đẳng và 700 trường đại học.
thời gian học cao đẳng từ một đến 3 năm và thời gian học đại học đa số là 4 năm; riêng các ngành Y, Nha khoa, Thú ý sẽ học là 6 năm [36].