Mở đầu - Nội dung: gồm 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng văn hóa nhà trườngở các trường trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường trung học cơ sở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Chƣơng 3: Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường trung học cơ sở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa - Kết luận và khuyến nghị 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƢỜNGỞ CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề N ữn n n c u ở n ớc n oà * Nghiên cứu văn hóa nhà trường Thuật ngữ “văn hóa tổ chức” (organisational culture) xuất hiện trên báo chí Mỹ lần đầu tiên khoảng thập niên 1960. Theo Terrence Deal và Atlan Kennedy (tác phẩm văn hóa công ty được xuất bản tại Mỹ năm 1982), văn hóa tổ chức là tập hợp các giá trị và quy tắc được các cá nhân và các nhóm trong một tổ chức chia sẻ với nhau.
Các giá trị và quy tắc này quy định cách thức ứng xử của mọi người với nhau và giữa những người trong tổ chức với các bên có liên quan nằm ngoài tổ chức [9]. Tác giả Farmer (1990) quan niệm văn hóa của một tổ chức là tổng hòa các giả thiết được cho là đúng, các niềm tin và giá trị mà các thành viên của tổ chức ấy cùng chia sẻ và được diễn đạt thông qua cách nói ngắn gọn “làm gì, làm như thế nào, và ai sẽ làm việc ấy”. Tuy nhiên, thành viên của một tổ chức thường coi văn hóa ấy là đương nhiên và không thực sự biết đánh giá tác động của nó đến các quyết định, hành vi, sự truyền thông giao tiếp, hay xem xét những biên giới có tính cấu trúc và biểu tượng của văn hóa tổ chức cho đến khi những lực lượng bên ngoài kiểm nghiệm nó. Theo Farmer, “sự thất bại trong việc hiểu biết những cách thức tương tác giữa văn hóa tổ chức và chiến lược tạo ra những thay đổi đã dự định cũng đồng nghĩa với sự thất bại của chính những chiến lược ấy” [31].
Các nghiên cứu của tác giả Edgar H. Schein (1996, 2004), một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về văn hóa tổ chức, cho rằng vấn đề cốt lõi của văn hóa tổ chức là các nguyên tắc của tổ chức. Các nguyên tắc này chi phối hoạt động của tổ chức, của các thành viên trong tổ chức đó.VHNT là văn hóa của một tổ chức. VHNT gồm 3 thành tố cấu thành.
Đó là: 1) Những quá trình và cấu trúc hữu hình; 2) Hệ thống giá trị được tuyên bố; 3) Những quan niệm chung. Ba thành tố này nằm trong mối quan hệ hữu cơ, tạo nên VHNT như một tổng thể. Nói cách khác, VHNT gồm hai thành tố cơ bản: Thành tố vật chất và thành tố tinh thần [38]. Theo quan niệm của ông, VHNT chính là văn hóa tổ chức.
* Nghiên cứu về quản lý văn hóa nhà trường Tác giả Sarason, S. (1996) đã cho rằng các giải pháp phát triển VHNT đóng vai trò quan trọng trong đổi mới và phát triển của nhà trường. Chủ thể quản lý nhà trường cần phải có những giải pháp cụ thể để phát triển văn hoá trường mình theo đúng mục 6 tiêu đã xác định. Các giải pháp này phải có tính khả thi cao dựa trên việc xác định được chiến lược phát triển của nhà trường, mô hình VHNT mong muốn hướng tới [36]… Các tác giả Keup Jennifer R.; Lindholm, Jennifer; A Julie Heifetz & Richard Hagberg nghiên cứu về chiến lược phát triển VHNT, đã xác định một số vấn đề chính: Người lãnh đạo cần tìm hiểu môi trường và các yếu tố ảnh hưởng tới chiến lược phát triển của nhà trường trong hiện tại và tương lai; cần xác định đâu là giá trị cốt lõi (phải là các giá trị luôn có ảnh hưởng đến các thành viên trong nhà trường và ảnh hưởng đến uy tín xã hội của nhà trường) làm cơ sở cho sự thành công và sự phát triển của nhà trường; xây dựng tầm nhìn của nhà trường là một định hướng cơ bản để xây dựng VHNT; xác định vai trò của người lãnh đạo trong phát triển VNHT từ hoạch định chính sách, xác định tầm nhìn của nhà trường, gây dựng niềm tin của các thành viên; soạn thảo một kế hoạch, một phương án hành động cụ thể trong việc thực hiện chiến lược và mục tiêu phát triển VHNT.
(1997) cho rằng, cần có sự kết hợp giữa nhà trường và các bậc cha mẹ học sinh trong việc xây dựng VHNT. Ông cho rằng phải làm cho cha mẹ học sinh hiểu được sự cần thiết và trách nhiệm của mình trong xây dựng VHNT. Nếu sự kết hợp này tốt thì sẽ có hiệu quả cao trong việc phát triển VHNT và ngược lại [39]… Các tác giả Deal, Terrence E.; Peterson, Kent D trong nghiên cứu "Shaping School Culture: The Heart of Leadership" (1999) cho rằng những cải cách nhằm đạt được thành công trong giáo dục sẽ thất bại trừ khi chúng được liên kết có ý nghĩa với nền văn hóa độc đáo của trường học và lãnh đạo nhà trường từ mọi cấp độ là chìa khóa để hình thành VHNT. Hiệu trưởng định hướng giá trị, giáo viên củng cố giá trị trong hành động và lời nói, phụ huynh củng cố tinh thần khi tới thăm trường học… Các tác giả cũng đã mô tả cách các nhà lãnh đạo định hình nền văn hóa trong vai trò của họ như nhà sử học, nhà nhân chủng học, nhà thơ và người chữa bệnh; đồng thời xem xét cách thức lãnh đạo có thể xây dựng văn hóa trường học tích cực thông qua việc xem xét các mục đích cốt lõi, năng lượng và tất cả các yếu tố của văn hóa.
Các nhà lãnh đạo trường học muốn xây dựng và duy trì nền văn hóa thành công phải tận dụng các cơ hội khi chúng nảy sinh. N ữn n n c u tron n ớc * Nghiên cứu văn hóa nhà trường Văn hóa nhà trường đã được các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước coi là một yếu tố rất cơ bản của các nhà trường, là nền tảng và định hướng cho sự phát triển và tiến bộ của nhà trường. Một số công trình nghiên cứu về VNHT tiêu biểu như: 7 Tác giả Phạm Minh Hạc (2009), đã tìm hiểu một số vấn đề lý luận về VHNT. Theo tác giả, khái niệm văn hóa học đường xuất hiện đầu những năm 1990, được xem là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp những người quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh có cách thức suy nghĩ, tình cảm và hành động tốt đẹp.
Nội dung của VNHT gồm: Làm cho các thành viên hiểu được mục tiêu và giá trị của nhà trường; Chuẩn học các bộ môn; Làm cho mọi người học cam kết có trách nhiệm học tập tốt; Xây dựng quan hệ hợp tác trong nhà trường; Tạo điều kiện để các nhà giáo và cán bộ bám sát thực tiễn, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau; Các nhà giáo luôn có ý thức rèn luyện nâng cao tay nghề, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tác giả cũng chỉ ra một số giá trị trong xây dựng VHNT. Các giá trị này trở thành chuẩn mực, thước đo sự phấn đấu của người thầy, người học trong nhà trường. [5] Từ năm 2008 đến 2010 theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Quản lý giáo dục Việt Nam đã hợp tác với Học Viện Giáo dục Singapore tổ chức chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức liên kết Việt Nam- Singapore giai đoạn 2008- 2010.
Nội dung chương trình có 7 chuyên đề, trong đó có chuyên đề 3 “Văn hóa nhà trường” được rất nhiều nhà Lãnh đạo đánh giá cao về tầm quan trọng của VHNT và được coi là một trong những yếu tố hàng đầu làm nên sự thành công trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. [8] Tác giả Trần Quốc Thành (2009) đã phân tích về một số biểu hiện của văn hóa học đường. Theo tác giả, văn hóa học đường gồm 2 phần lớn: Phần nổi là định hướng phát triển của nhà trường, mục tiêu phát triển, các giá trị mà nhà trường theo đuổi, khung cảnh của nhà trường (nhà, phòng học, phòng làm việc, cơ sơ vật chất, biểu trưng của nhà trường). Phần chìm của văn hóa học đường gồm các trạng thái tâm lý của các cá nhân, bầu không khí tâm lý của nhà trường, thương hiệu của nhà trường, sự thừa nhận các giá trị của nhà trường [23].
Tác giả Phạm Thị Minh Hạnh (2009) đã phân tích bản chất của văn hóa học đường là hình thành một môi trường giáo dục mà mỗi thành viên có điều kiện phát triển tốt nhất. Các yếu tố cấu thành VHNT gồm: Kế hoạch, chiến lược phát triển của nhà trường (tầm nhìn, sứ mệnh, hệ thống giá trị, mục tiêu, định hướng phát triển); Hoạt động quản lý nhà trường, ảnh hưởng của các cấp lãnh đạo đến các thành viên; Các chính sách khuyến khích các hoạt động của nhà trường; Bầu không khí tâm lý, cách thức ứng xử trong nhà trường; Khung cảnh của nhà trường; Xây dựng thương hiệu của nhà trường,…[6]. Một số tác giả khác cũng đã đề cập đến VHNT như: Phạm Quang Huân: “Văn hóa tổ chức – hình thái cốt lõi của VHNT”; Nguyễn Thị Kim Ngân: “Văn hóa giao tiếp trong nhà trường”. 8 Nhân kỷ niệm 35 năm thành lập ngành sư phạm, ngày 8/10/1981, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã yêu cầu mỗi thầy cô giáo phải trả lời cho được các câu hỏi: “Dạy cái gì? Dạy để làm gì? Nhà trường phải coi trọng giáo dục toàn diện cho học sinh, cả đức dục và trí dục, thể dục và mỹ dục.
Phải làm và làm tốt giáo dục đạo đức cách mạng. Phải xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học”. Từ sau năm 1981, mô hình này được triển khai trong toàn ngành GD-ĐT. Các nhà trường trong cả nước đã tích cực vận dụng, xây dựng từng bước hoàn thiện các thành tố của môi trường GD này, góp phần bảo đảm chất lượng GD trong các nhà trường.
Bộ GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 theo Chỉ thị 40/2008/BGDĐT và tiếp tục triển khai thực hiện trong toàn ngành GD-ĐT trong những năm tiếp theo.[1] Mục tiêu: - Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội.