CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRƯỜNG THÀNH, TP TUYÊN QUANG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA MỨC ĐỘ 2 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về xây dựng trường chuẩn quốc gia Các quốc gia đều nhận thức đúng vai trò, vị trí hàng đầu của GD, đều phải đổi mới/cải cách GD để đáp ứng những đòi hỏi nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Định hướng và mục tiêu phát triển GD của một số nước châu Á và Phương Tây nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng, họ đều đặc biệt quan tâm đến giáo dục tiểu học - giáo dục nền tảng.
Các nước không đề cập đến vấn đề “trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia”, nhưng họ vẫn có những giai đoạn cải cách và phát triển. Cải cách GD khi mà nền kinh tế có sự chuyển đổi. Sự cải cách GD trên cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn của mỗi quốc gia phát triển cho thấy GD của họ thực chất đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội (KTXH), cùng với những quy định nghiêm ngặt, đưa ra những tiêu chuẩn hiện đại để xây dựng CSVC, TBDH, nội dung chương trình, đội ngũ nhà giáo, xã hội hóa giáo dục…Những yếu tố đó cấu thành một nhà trường tiên tiến, hiện đại họ đều hướng tới để hoàn thiện. Ở Trung Quốc có công trình “Xây dựng tiêu chuẩn hoá điều kiện mở trường loại Trung học và Tiểu học” Bắc Kinh đã lập kế hoạch cơ bản thực hiện hiện đại hoá GD vào năm 2010.
Thành phố Bắc Kinh đã đề ra mục tiêu cải cách và phát triển ngành GD thủ đô nêu rõ: đến năm 2040 sẽ đi đầu trong toàn quốc về cơ bản thực hiện hiện đại hoá GD. Tiêu chí để đi đầu trong toàn quốc cơ bản thực hiện hiện đại hoá GD là: chất lượng của giáo dục ở các cấp, các loại hình, đặc biệt là GD cơ sở được nâng cao rõ rệt, thu hẹp rõ rệt khoảng cách về giáo dục giữa thành thị và nông thôn; GD dạy nghề càng được mở mang; nâng cao thêm một bước trình độ GD đại học, cao đẳng; bước đầu hình thành thành phố theo mô hình học tập; năng lực phục vụ học tập, năng lực ủng 15 hộ nhân tài, năng lực cống hiến trí tuệ và năng lực cạnh tranh quốc tế của GD đối với công cuộc xây dựng hiện đại hoá thủ đô được tăng cường rõ rệt; bước đầu xây dựng thể chế hệ thống GD hiện đại thích ứng với yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và kinh tế xã hội [trích theo 31]. Chuẩn GD khoa học Quốc gia Hoa Kì đưa ra một tầm nhìn về xoá mù khoa học cho mọi công dân và chỉ rằng học sinh cần biết, hiểu và có khả năng tiến hành việc xoá mù khoa học ở các lớp học/bậc học khác nhau. Chuẩn miêu tả một hệ thống GD, trong đó HS học tập ở các mức độ cao, GV được quyền đưa ra các quyết định giữa GV và HS tập trung vào học tập khoa học, các chương trình GD hỗ trợ và các hệ thống thành tích học tập đích thực… Với mục đích là chuẩn khoa học cho mọi HS, các chuẩn này được áp dụng cho tất cả HS không phân biệt độ tuổi, giới tính, nền văn hoá hay dân tộc; các em thiệt thòi, có nguyện vọng hay sự hứng thú và có động cơ trong khoa học.
Những HS khác nhau sẽ đạt được sự hiểu biết theo các cách khác nhau và kiến thức mà chúng nắm bắt được phụ thuộc vào sự quan tâm, năng lực và bối cảnh. Mọi HS có thể phát triển tri thức và kĩ năng theo các chuẩn, thậm chí một số em có thể đạt thành tích cao hơn cả chuẩn đặt ra [trích theo 31]. Bằng việc nhấn mạnh đến tri thức và sự công bằng, các chuẩn còn đề cao nhu cầu cung cấp cơ hội cho HS học tập khoa học. Các em sẽ đạt thành tích học tập cao nếu được học GV có trình độ, đủ số giờ học trên lớp, tài liệu học tập phong phú, đủ diện tích phòng học và các nguồn lực của cộng đồng xung quanh nhà trường.
Trách nhiệm cung cấp những hỗ trợ nói trên đặt trên vai những người có liên quan đến hệ thống GD khoa học. Các nghiên cứu về quản lý xây dựng trường chuẩn quốc gia Đổi mới GD ở Việt Nam là phù hợp với xu thế đổi mới GD của thế giới mà điều căn bản và trước hết là đổi mới việc xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Hội nghị lần thứ 2 của BCH TW Đảng khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và nhiệm vụ đến năm 2020 đã chỉ ra những nhiệm vụ trọng tâm của GD&ĐT, trong đó xây dựng và “ban hành chuẩn quốc gia về trường học”. Theo đó, Bộ GD&ĐT đã có chương trình hành động nhằm đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn GD.
Bên cạnh hoàn thiện cơ cấu hệ 16 thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, nghị quyết TW2 (khóa VIII) đã xác định “Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), những tiến bộ khoa học - công nghệ (KH-CN) và củng cố quốc phòng, an ninh. Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả”, “Phát triển mạng lưới trường phổ thông rộng khắp toàn quốc. Xây dựng trên mỗi địa bàn xã, phường hoặc nơi ở thưa dân thì cụm xã, phường ít nhất một trường tiểu học và một trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia”. Mục tiêu phát triển giáo dục nói chung và vấn đề xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia nói riêng đã được khẳng định lại trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và chiến lược phát triển GD&ĐT giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 17/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 Ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học gồm 5 tiêu chuẩn. Nghiên cứu về mô hình trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia đã có các hội nghị, hội thảo, công trình nghiên cứu đáng kể: “Thực trạng và những biện pháp tăng cường cơ sở vật chất xây dựng trường chuẩn quốc gia ở Hải Phòng” của Phạm Thị Loan, trên tạp chí phát triển giáo dục số 2/2005; Ngô Thị Thanh Thoa với học viên luận văn thạc sĩ “Biện pháp xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng” (năm 2013) Các học viên nghiên cứu, bài báo, đề án về xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia nói trên đã xác định tầm quan trọng của hệ thống trường đạt chuẩn quốc gia trong hệ thống giáo dục quốc dân, xác định tiêu chuẩn cho mô hình trường chuẩn quốc gia các cấp/bậc học và đã nêu lên một số biện pháp chung cho các cấp học trong lộ trình xây dựng trường chuẩn quốc gia cũng như đề xuất một số biện pháp huy động nguồn lực xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Biện pháp xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia của Thành phố Ngọc Hồi ở giai đoạn mới chưa có công trình nào đề cập một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện các khía cạnh của mô hình trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia ở một Thành phố miền núi, biên giới. 17 Công trình nghiên cứu này tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2, đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng trường tiểu học Trường Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đạt chuẩn quốc gia mức độ 2.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và quản lý xây dựng nhà trường a. Quản lý Khái niệm quản lý (QL) là một khái niệm có ý nghĩa rất tổng quát. Từ khi xã hội loài người hình thành, hoạt động tổ chức, QL đã được quan tâm.
Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Xét ở góc độ hoạt động thì QL là điều khiển, hướng dẫn các qui trình xã hội và hành vi con người để đạt đến mục đích, phù hợp với quy luật khách quan. Dưới góc độ khoa học, QL là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm QL đã được các nhà lý luận đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.W Taylor, một nhà QL người Mỹ cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Horold Koontz trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm”. Mayrry Follet cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”.Marx: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp”. Ông viết: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Việt Nam, khái niệm QL cũng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Theo từ điển Tiếng Việt, QL là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất 18 định” hoặc là: “Tổ chức và hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế phát triển”. Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (nội lực) [Error! Reference source not found. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình có định hướng, có mục tiêu; Quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mỗi hệ thống và người quản lý mong muốn”.