Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng đô thị của chính quyền địa phương cấp quận. Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng đô thị trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm. Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý xây dựng đô thị trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP QUẬN 1.
Một số khái niệm và đặc điểm quản lý xây dựng đô thị 1. Một số khái niệm Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa riêng về quản lý. Nội dung thuật ngữ quản lý có nhiều cách diễn đạt khác nhau.
Với ý nghĩa thông thường phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã định. [17] Hiện nay có nhiều định nghĩa về quản lý xây dựng đô thị, tùy theo cách tiếp cận và nghiên cứu. Quản lý đô thị là các hoạt động nhằm huy động mọi nguồn lực vào công tác quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các hoạt động đó để đạt được các mục tiêu phát triển của chính quyền thành phố.[7] Quản lý đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng trên cơ sở của nhiều khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống chính sách, cơ chế. Biện pháp và phương tiện được chính quyền nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện quản lý và kiểm soát quá trình tăng trưởng đô thị.
Theo một nghĩa rộng thì quản lý đô thị là quản lý con người và không gian sống (ăn, ở, làm việc, nghỉ ngơi…) ở đô thị. [7] Như vậy, thực chất của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở đô thị là sự can thiệp bằng quyền lực của chính quyển vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội ở đô thị, với mục đích làm cho các đô thị trở thành những trung tâm hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao lưu quốc tế của mỗi vùng lãnh thổ. Quản lý xây dựng đô thị là một công tác quan trọng trong hệ thống quản lý đô thị. Nếu việc quản lý xây dựng không tuân theo định hướng mà quy hoạch đã vạch ra thì không kiểm soát được sự phát triển đô thị và có thể dẫn đến những thiệt hại to lớn nhiểu mặt về kinh tế xã hội.
7 Quản lý xây dựng đô thị bao gồm quản lý hành chính đô thị và quản lý nghiệp vụ trong mọi lĩnh vực ở đô thị. Quản lý hành chính có tác dụng duy trì, điều khiển mọi hoạt động trên mọi lĩnh vực thuộc địa bàn đô thị, Cơ quan quản lý hành chính chịu trách nhiệm cao nhất về các sự việc xảy ra ở đô thị. Quản lý hành chính là một công việc rất đa dạng và phức tạp, đòi hỏi một cơ chế quản lý đầy đủ và đồng bộ. Hệ thống các văn bản cần rõ ràng thống nhất và cán bộ công chức nhà nước cũng cần thông thạo chuyên môn hành chính.
Hệ thống pháp quy càng khoa học bao nhiêu thì các hoạt động của đô thị càng nhịp nhàng bấy nhiêu. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia. [7] Quản lý chuyên môn nghiệp vụ trên các ngành, các lĩnh vực của đô thị chính là hỗ trợ cho hệ thống quản lý nhà nước. Mỗi ngành đều có các cơ quan quản lý của mình.
Họ hoạt động theo các văn bản pháp quy, quy định, quy phạm của ngành dọc đồng thời thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước, chịu sự điều hành, điều phối của cơ quan quản lý hành chính cấp trên. Như vậy quản lý chuyên môn nghiệp vụ không đơn thuần là thực hiện theo đúng các quy định, quy phạm kỹ thuật của ngành mà còn phải thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao từ cơ quan quản lý nhà nước cấp trên. [7] Theo Khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng 2014[13], Hoạt động xây dựng gồm: lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Như vậy, đối tượng của quản lý xây dựng đô thị là toàn bộ những hoạt động xây dựng tại hoặc có liên quan đến địa bàn đô thị.
Trong đó, hoạt động quy hoạch xây dựng (QHXD) có vị trí đầu tiên trong dây truyền, là cơ sở cho các bước tiếp theo như lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế xây dựng công trình… Chính vì vậy, công tác quản lý QHXD và kiến trúc đô thị có tầm quan trọng đặc biệt để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của QHXD góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường theo hướng bền vững và tạo bộ mặt kiến trúc đô thị có thẩm mỹ. 8 Theo Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng 2014[13], Công trình xây dựng: là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người,vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ quy định phân loại công trình xây dựng bao gồm 06 loại công trình [5], cụ thể: - Công trình dân dụng gồm: Nhà ở: nhà chung cư và các loại nhà ở tập thể, nhà ở riêng lẻ; Công trình công cộng: công trình giáo dục, công trình y tế, công trình thể thao, công trình văn hóa, công trình tôn giáo, tín ngưỡng, công trình thương mại, dịch vụ và trụ sở làm việc của các tổ chức xã hội, sự nghiệp và doanh nghiệp, nhà ga, trụ sở cơ quan nhà nước. - Công trình công nghiệp gồm: công trình sản xuất vật liệu xây dựng, công trình luyện kim và cơ khí chế tạo, công trình khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công trình dầu khí, công trình năng lượng, công trình hoá chất, công trình công nghiệp nhẹ.
- Công trình hạ tầng kỹ thuật gồm: cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải rắn, chiếu sáng công cộng và công trình khác. - Công trình giao thông gồm: công trình đường bộ, công trình đường sắt, cầu, hầm, công trình đường thủy nội địa, công trình hằng hải, công trình hàng không. - Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn gồm: công trình thủy lợi, công trình đê điều, công trình chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản và các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn khác. - Công trình quốc phòng an ninh.
Đặc điểm quản lý xây dựng đô thị Quản lý xây dựng đô thị là hoạt động quản lý mà trong đó có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động quản lý. Ngoài ra, còn có những đặc điểm riêng mà chỉ có trong xây dựng: Đối tượng quản lý xây dựng là các công trình xây dựng trên địa bàn đô thị. Công tác quản lý xây dựng gắn liền với yếu tố vị trí địa lý, thổ nhưỡng đất đai, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như phong tục tập quán ở từng địa phương, thẩm mỹ, khí hậu thời tiết từng khu vực cho đến quy hoạch khu chức năng của từng đô thị… 9 Hoạt động xây dựng diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên từng địa bàn cơ sở, tốc độ xây dựng nhanh, chi phí đầu tư xây dựng lớn, với thực tế lực lượng thanh tra Bộ và các Sở Xây dựng không đủ lực lượng, phương tiện và điều kiện để kiểm soát toàn bộ hoạt động xây dựng trên toàn quốc, dẫn đến tình trạng vi phạm trật tự xây dựng tại nhiều khu đô thị lớn, đặc biệt là các vụ nghiêm trọng gây dư luận xã hội và tốn không ít tiền của của Nhà nước và nhân dân. Quản lý theo một thể thống nhất từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết 1/2000, 1/500.
Gắn quy hoạch tổng thể Thành phố với quy hoạch chi tiết từng đơn vị quận, phường. Hoạt động quản lý xây dựng phải phù hợp với đặc điểm và điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm tự nhiên của từng địa phương. Quản lý xây dựng lấy cơ sở pháp lý là các điều luật về xây dựng, quy hoạch - kiến trúc, Luật Đất đai, Luật Dân sự… Hoạt động quản lý xây dựng là một chuỗi các hoạt động từ quản lý quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát thiết kế xây dựng công trình, cấp giấy phép, hoạt động tranh tra kiểm tra hậu cấp phép (quản lý trật tự xây dựng). Quản lý xây dựng đô thị của chính quyền địa phương cấp quận 1.
Nội dung quản lý Nhà nước về xây dựng đô thị Theo Điều 160, Luật Xây dựng 2014 [13], nội dung quản lý Nhà nước về xây dựng đô thị gồm: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển thị trường xây dựng và năng lực ngành xây dựng. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng. Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng.
Tổ chức, quản lý thống nhất quy hoạch xây dựng, hoạt động quản lý dự án, thẩm định dự án, thiết kế xây dựng; ban hành, công bố các định mức và giá xây dựng. Hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; quản lý chi phí đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng; quản lý năng lực hoạt động xây dựng, thực hiện quản lý công tác đấu 10 thầu trong hoạt động xây dựng; quản lý an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình. Cấp, thu hồi giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận trong hoạt động đầu tư xây dựng. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư xây dựng.
Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, phổ biến kiến thức, pháp luật về xây dựng.