chương 1, điều 12: Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, ghi rõ vai trò của các đối tượng tham gia XHHGD: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục.” Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005- 2010” [11]. Các văn bản này đều xác định rất rõ vai trò chủ đạo, mang tính toàn diện, thống nhất của Nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng trong xã hội để phát triển giáo dục. XHHGD có thể coi đây là một chiến lược của Đảng và Nhà nước ta bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những khái quát trên có thể hiểu khái niệm XHHGD: Đó là việc lôi cuốn, thu hút, khích lệ mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội tham gia cùng làm giáo dục; Việc huy động và động viên đó mang tính chất là những phong trào quần chúng, đảm bảo cơ chế hoạt động là dưới sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nước, xác định vai trò của mọi tổ chức xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi tham gia làm giáo dục.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN là bậc học đầu tiên. Theo tinh thần của Luật giáo dục, công tác quản lý, chỉ đạo, phát triển GDMN cần phải gắn bó với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao. Tính phong trào vừa là đặc điểm riêng vừa là quy luật phát triển của GDMN, vì vậy phải phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và toàn thể xã hội thì mới phát triển được bậc học này. GDMN cũng như sự nghiệp giáo dục cả nước đã và đang có những bước chuyển biến đáng kể.
Có được kết quả đó là nhờ thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục Mầm non trong đó phải kể đến một phần quan trọng trong vận dụng đúng đắn chủ trương XHHGDMN. Từ thực tiễn GDMN có thể nói đây là bậc học được XHH cao hơn bất kỳ bậc học nào. GDMN thể hiện sinh động sự phối hợp hài hoà nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Thực hiện chiến lược phát triển GDMN đến năm 2020; nhằm phát triển GDMN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) [10] và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX [26], ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác GDMN.
Hội nghị đề ra những giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp XHHGDMN, đa dạng hoá các loại hình GDMN. Ngày15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển GDMN [19, tr.2] và khẳng định rõ ở điều 1, nhiệm vụ phát triển GDMN đến 2010: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển GDMN, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp GDMN, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư,…”. Quyết định này thực sự mở đường cho GDMN phát triển. Để việc thực hiện Quyết định 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có hiệu quả, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đã ra Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT/BGD&ĐT- BNV-BTC, ngày 24/2/2003 hướng dẫn một số chính sách phát triển GDMN [50], trong đó chỉ ra các bước của việc thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực hiện XHHGD đối với GDMN.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu về XHH GDMN đã được sự quan tâm ở nước ta trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Theo nghiên cứu “Phát triển giáo dục ngoài công lập - thực hiện chủ trương XHH giáo dục” của tác giả Bùi Tiến Hanh [31] thì phát triển giáo dục ngoài công lập (bán công, dân lập, tư thục) là biện pháp nhằm đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục. Trong những năm qua sự phát triển giáo dục ngoài công lập đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Nghiên cứu “Biện pháp quản lý công tác XHH GDMN Tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh [35] cho biết: Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta, chính quy hoá các hình thức và tổ chức GDMN bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện được vì quá khả năng kinh tế.
Mặt khác, nền kinh tế thị trường lại tăng thêm áp lực cho các gia đình nghèo, hạn chế cơ hội đến trường của trẻ em. Vì vậy, XHHGDMN nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng GDMN, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ vào giáo dục tiểu học. Việc huy động các nguồn lực cho GDMN sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượng chăm sóc, giáo dục, tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng GDMN. Theo tác giả Đào Thanh Âm, trong bài viết “Nhận thức cho đúng khái niệm XHH công tác GDMN” [2] đã cho rằng XHH sự nghiệp GDMN là một bài học thành công trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống GDMN của nước ta.
Đây cũng là một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương của Nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để giáo dục tạo ra lớp người lao động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo để đáp ứng đòi hỏi của nền công nghiệp hóa nước ta vào năm 2020 vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và IX đã nêu ra. Với những suy tư, trăn trở về giáo dục, tác giả Hồ Thiệu Hùng, trong bài viết “Để GDMN vững bước trên con đường XHH” [33] cho biết: Muốn XHH GDMN thành công thì cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý công tác này từ nhiều phía: Nhà nước (từ trung ương đến địa phương), các tổ chức kinh tế - xã hội, người dân, gia đình và bản thân ngành giáo dục. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Hoàng Yến, Đỗ Thị Bích Loan (2012) với đề tài "Xã hội hóa giáo dục thực trạng và giải pháp" Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam [54] cho thấy về quản lý công tác XHH GDMN đã: Phát triển đa dạng hơn, số lượng các trường ngoài công lập tăng nhanh đã lôi cuốn sự tham gia của các lực lượng xã hội, ban ngành hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non. Quy mô trường mầm non ngoài công lập tiếp tục được củng cố và phát triển.
Tỷ lệ giữa trường, học sinh và giáo viên của giáo dục mầm non phát triển mạnh và hợp lý trong giai đoạn 2000-2005 và giảm sau đó trong giai đoạn 2006-2010. Nguyễn Võ Kỳ Anh (2014) trong đề tài: Xã hội hóa giáo dục mầm non góp phần nâng cao chất lượng nòi giống và đào tạo nhân tài cho đất nước, Viện Nghiên cứu giáo dục phát tiềm năng con người (IPD), Trung tâm Giáo dục môi trường và sức khỏe cộng đồng (CECHC) [1]. Tác giả với quan điểm quản lý công tác XHH GDMN phải thực hiện chăm lo cho giáo dục mầm non là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội, có thể khẳng định giáo dục mầm non là cấp học xã hội hóa cao hơn các cấp học khác. Cho đến nay giáo dục mầm non đã và đang tồn tại đủ các quy mô trường, lớp, nhóm với các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục.
Loại hình trường tư thục đang trên đà phát triển ở các thành phố, thị xã và những nơi có nền kinh tế phát triển. Loại hình bán công đang dần được chuyển sang loại hình trường công lập. Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề ra nhiều giải pháp quản lý cho cho công tác XHHGD, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của công tác XHH đối với sự nghiệp phát triển GDMN trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu đề cập chưa thật đầy đủ về những biện pháp quản lý XHHGD mầm non nên còn mờ nhạt, đó là cơ sở để đề tài “Biện pháp quản lý công tác XHHGD trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay” tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các biện pháp quản lý XHHGD mầm non có hiệu quả ở địa phương.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý Tuỳ theo mục đích tiếp cận khác nhau, đã có nhiều cách hiểu về quản lý. Trong luận văn này, chúng tôi xin đưa ra một vài quan niệm của một số nhà khoa học để đi đến thống nhất quan niệm về quản lý. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo nhà tâm lý học Xô viết Iu.
Tikhômirôp cho rằng: “Quản lý là tác động có hướng đích, dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của hệ quản lý đến các quá trình đang diễn ra nhằm đạt mục đích tối ưu mục đích đặt ra”. Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đã nêu ra: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung,. Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác” [15, tr. Theo các nhà khoa học Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [23, tr.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [16, tr.