Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp giữ vai trò hình thành và duy trì các đơn vị hoạt động ở những khâu, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh, các lĩnh vực độc quyền tự nhiên hoặc công nghệ cao mà các thành phần kinh tế khác không tham gia. Để thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động này, Quốc hội đã thông qua Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 (Luật số 69/2014/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015).

Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng thực tiễn, hiệu quả sản xuất kinh doanh và mức độ đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng như doanh nghiệp có vốn nhà nước vẫn chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Các doanh nghiệp chưa chủ động thích ứng với cơ chế thị trường, chủ yếu khai thác thị trường truyền thống, trong khi hệ thống pháp luật bộc lộ nhiều điểm nghẽn về phân cấp thẩm quyền đại diện chủ sở hữu, quy trình thủ tục đầu tư và cơ chế quản trị. Trước yêu cầu đó, tác giả Nguyễn Thị Minh Châu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp ở Việt Nam" tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, năm 2023).

Khóa luận xác định rõ ba mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về vốn nhà nước, nguyên tắc đầu tư, quản lý vốn, thẩm quyền của chủ sở hữu đối với phần vốn nhà nước, cơ chế phân phối lợi nhuận và giám sát vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp dưới góc độ thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước cũng như góc độ quản trị nội bộ doanh nghiệp.
  3. Đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, cùng các yếu tố tác động đến hoạt động này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam dưới góc độ thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm hệ thống hóa và phân tích các hiện tượng pháp lý trong mối quan hệ kinh tế - xã hội khách quan. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp tổng quan tài liệu: Kế thừa, tổng hợp và đánh giá các công trình khoa học đã công bố (tiêu biểu như nghiên cứu của Lê Chí Mai năm 1993, Nguyễn Đăng Nam năm 2009, Nguyễn Xuân Nam năm 2009, Lương Minh Hải năm 2017, Nguyễn Huy Cường năm 2019) nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu và khẳng định tính độc lập của đề tài.
  • Phương pháp phân tích pháp lý: Phân tích quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Đầu tư công năm 2019, Luật Ngân sách nhà nước, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, Nghị định số 87/2015/NĐ-CP, Nghị định số 32/2018/NĐ-CP, Nghị định số 131/2018/NĐ-CP, Nghị định số 10/2019/NĐ-CP, Nghị định số 148/2021/NĐ-CP; các Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg, 1515/QĐ-TTg, 929/QĐ-TTg, 707/QĐ-TTg, 360/QĐ-TTg, 1479/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).
  • Phương pháp thống kê và so sánh: Tổng hợp, xử lý các báo cáo tài chính, báo cáo giám sát của Chính phủ gửi Quốc hội (giai đoạn 2015–2021), số liệu hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC).

Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế từ hai mô hình quản lý vốn nhà nước tiêu biểu:

  • Mô hình SASAC (Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước Trung Quốc - thành lập năm 2003): Cơ quan ngang bộ quản lý trực tiếp 198 DNNN lớn phi tài chính (sau thu gọn còn 148 doanh nghiệp) với đội ngũ khoảng 550 người, cùng hệ thống SASAC địa phương quản lý 1.030 doanh nghiệp. SASAC can thiệp sâu về nhân sự, tài sản và công việc nhưng mang tính hành chính cao, chưa tách bạch triệt để giữa quản lý nhà nước và điều hành doanh nghiệp (mới có 19/148 tập đoàn thí điểm thành lập Hội đồng quản trị).
  • Mô hình Temasek Holdings (Singapore - thành lập năm 1974): Tập đoàn quản lý tài sản trực thuộc Bộ Tài chính Singapore, quản lý danh mục tài sản đạt 110 tỷ USD. Mô hình này vận hành hoàn toàn theo nguyên tắc thương trường chuyên nghiệp, tách biệt tuyệt đối vai trò hoạch định chính sách của Chính phủ với điều hành kinh doanh, trong đó 40% vị trí quản lý là chuyên gia quốc tế.

Từ kinh nghiệm quốc tế, khóa luận rút ra các bài học trọng tâm cho Việt Nam: tập trung vốn vào 4 lĩnh vực thiết yếu; tách bạch dứt khoát quyền đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý nhà nước; thực hiện quyền tương ứng với tỷ lệ vốn góp; chuyển đổi phương thức giám sát từ tiền kiểm hành chính sang đánh giá theo mục tiêu; và đẩy mạnh thoái vốn, cổ phần hóa lành mạnh.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

Chương này chuẩn hóa hệ thống khái niệm và cơ sở khoa học của đề tài:

  • Khái niệm vốn nhà nước: Bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của DNNN và các nguồn vốn khác do Nhà nước quản lý.
  • Khái niệm quản lý, sử dụng vốn nhà nước: Là hệ thống hình thức, phương pháp và công cụ do Nhà nước ban hành nhằm định hướng đầu tư, sử dụng và giám sát việc bảo toàn, phát triển nguồn vốn. Lý do Nhà nước phải quản lý chặt chẽ xuất phát từ sự tách biệt giữa chủ sở hữu (Nhà nước) và người điều hành trực tiếp (nguy cơ xung đột lợi ích), yêu cầu thực thi vai trò quản lý kinh tế vĩ mô và trách nhiệm thu hồi lợi nhuận sau thuế phục vụ tái đầu tư xã hội.
  • Vai trò và nội dung của pháp luật: Pháp luật là công cụ thể chế hóa chủ trương của Đảng, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, hạn chế thất thoát, lãng phí và phòng chống tham nhũng. Bốn trụ cột nội dung của pháp luật gồm: nguyên tắc quản lý sử dụng vốn; quyền và nghĩa vụ của cơ quan đại diện chủ sở hữu; quy chế hoạt động đầu tư, chuyển nhượng vốn và quản lý tài chính; quy chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương 2 là phần trọng tâm, đánh giá chi tiết quy định và số liệu thực tế qua các mảng vấn đề:

1. Hệ thống 6 nguyên tắc pháp lý theo Luật số 69/2014/QH13

  • Tuân thủ quy định pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn.
  • Phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
  • Đầu tư tập trung vào các khâu then chốt thuộc 4 lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ.
  • Cơ quan đại diện chủ sở hữu không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị điều hành của doanh nghiệp.
  • Quản lý thông qua người đại diện vốn theo cơ chế thị trường, bình đẳng, cạnh tranh.
  • Bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với các điều ước quốc tế.

2. Thực trạng cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn và kết quả hoạt động

Hệ thống đại diện chủ sở hữu hiện nay phân chia cho ba nhóm chủ thể:

  • CMSC: Đại diện chủ sở hữu tại 19 tập đoàn, tổng công ty lớn với tổng nguồn vốn chủ sở hữu trên 1 triệu tỷ đồng, tổng tài sản hơn 2,3 triệu tỷ đồng.
  • SCIC: Đại diện chủ sở hữu phần vốn chuyển giao từ các Bộ, UBND cấp tỉnh; quản lý cổ phần tại 147 doanh nghiệp (chiếm khoảng 22% tổng số DNNN cả nước tính đến cuối năm 2022).
  • Các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh: Quản lý khoảng 54% số DNNN thuộc địa phương và 27% thuộc các bộ chủ quản.
Chỉ tiêu tài chính SCIC Năm 2020 Năm 2021 So với kế hoạch 2021
Tổng doanh thu 7.945 tỷ đồng 7.213 tỷ đồng 111%
- Doanh thu cổ tức 4.633 tỷ đồng 4.409 tỷ đồng 101%
- Doanh thu bán vốn 1.173 tỷ đồng 1.390 tỷ đồng Gấp 3 lần chênh lệch bán
- Doanh thu tài chính 2.128 tỷ đồng 1.404 tỷ đồng 108%
Lợi nhuận sau thuế 6.197 tỷ đồng 8.563 tỷ đồng 259%
Nộp ngân sách nhà nước 9.337 tỷ đồng 9.580 tỷ đồng Đạt mức cao vượt kế hoạch

Ghi chú hoạt động đầu tư tiêu biểu: Năm 2021, SCIC đã chi 6.895 tỷ đồng mua cổ phần tăng vốn điều lệ tại Vietnam Airlines (nắm giữ 31% vốn điều lệ).

3. Bức tranh tài chính của khối doanh nghiệp có vốn nhà nước (đến 31/12/2021)

Tổng hợp trên 826 doanh nghiệp có vốn nhà nước (gồm 476 doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ, 197 doanh nghiệp nắm giữ trên 50% và 153 doanh nghiệp nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ):

Chỉ tiêu tài chính hợp nhất (826 DN) Toàn khối năm 2021 Khối Tập đoàn, TCT, Công ty mẹ - con Tỷ trọng khối mẹ - con / Toàn khối
Tổng tài sản 3.749.867 tỷ đồng (+2%) 3.205.100 tỷ đồng 90%
Vốn chủ sở hữu 1.451.863 tỷ đồng (+3%) 1.863.000 tỷ đồng 88%
Tổng vốn nhà nước đầu tư 1.574.574 tỷ đồng (+3%) 1.508.768 tỷ đồng (DN 100% vốn) 95,8%
Tổng doanh thu 2.128.254 tỷ đồng (+8%) 1.705.000 tỷ đồng 90%
Lãi phát sinh trước thuế 205.045 tỷ đồng (+25%) 186.371 tỷ đồng 91%
Phát sinh phải nộp NSNN 323.876 tỷ đồng (+6%) 285.801 tỷ đồng 88%

Trong giai đoạn 2016–2021, tổng quy mô vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp đạt 197.443 tỷ đồng:

Năm đầu tư Số lượng doanh nghiệp tiếp nhận Quy mô vốn đầu tư thực hiện
2016 132 doanh nghiệp 22.116 tỷ đồng
2017 132 doanh nghiệp 61.477 tỷ đồng
2018 144 doanh nghiệp 33.667,47 tỷ đồng
2019 85 doanh nghiệp 21.182,08 tỷ đồng
2020 94 doanh nghiệp 16.109,65 tỷ đồng
2021 86 doanh nghiệp 39.890 tỷ đồng (gồm 3.000 tỷ lập VNX)

4. Phân tích các hạn chế, bất cập pháp lý

  • Chồng chéo thẩm quyền đại diện chủ sở hữu: Mô hình phân tán qua CMSC, SCIC, các Bộ chuyên ngành và UBND cấp tỉnh gây xung đột vai trò. CMSC vừa làm đại diện chủ sở hữu vốn tại SCIC, vừa trực tiếp chỉ đạo 18 tập đoàn khác, trong khi SCIC cũng tiếp nhận quyền đại diện vốn từ các bộ, địa phương.
  • Bất cập trong quản trị nội bộ sau cổ phần hóa: Tỷ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn quá cao (51% đến 97%), dẫn đến việc duy trì cơ chế hành chính bao cấp. Trên 80% doanh nghiệp có phần vốn chi phối có thành viên Hội đồng quản trị kiêm nhiệm chức danh điều hành, triệt tiêu tính độc lập trong kiểm soát; nhân sự quản lý chủ yếu là công chức, viên chức thiếu năng lực điều hành kinh doanh thị trường. Điển hình như Vietnam Airlines, dù cổ phần hóa nhưng công ty mẹ lỗ 8.634 tỷ đồng năm 2023, dẫn đến âm vốn chủ sở hữu.
  • Hạn chế về hình thức và phạm vi đầu tư: Luật năm 2014 chỉ quy định việc thành lập mới đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, thiếu cơ sở pháp lý để Nhà nước liên doanh thành lập mới công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Quy định cứng nhắc 4 phạm vi đầu tư ngăn cản việc kịp thời tái cơ cấu, hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp quan trọng ngoài danh mục (ví dụ khó khăn khi tăng vốn cho Vietnam Airlines).
  • Thu hẹp nguồn vốn đầu tư: Do Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp đã điều chuyển toàn bộ về ngân sách nhà nước theo Nghị định số 148/2021/NĐ-CP, việc rót vốn bổ sung cho doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào quy trình chi đầu tư phát triển từ ngân sách, gây chậm trễ, xơ cứng và thiếu linh hoạt.
  • Trùng lặp thủ tục đầu tư dự án: Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước năm 2014 không quy định trình tự đầu tư dự án riêng biệt, buộc doanh nghiệp phải áp dụng đồng thời Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công, không phân định được giữa hoạt động đầu tư dự án kinh doanh với hoạt động mua sắm tài sản thường xuyên.

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

Khóa luận xây dựng 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Giải quyết triệt để chồng chéo thẩm quyền đại diện chủ sở hữu: Phân định rõ phạm vi quản lý giữa CMSC, SCIC và chính quyền địa phương (nghiên cứu thành lập Ban quản lý vốn tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh); thể chế hóa cơ chế phân cấp nhằm trao quyền tự chủ tối đa cho ban điều hành doanh nghiệp, chấm dứt việc cơ quan chủ quản can thiệp vào hoạt động kinh doanh hàng ngày.
  2. Hoàn thiện quy chế đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp: Mở rộng hình thức đầu tư cho phép Nhà nước góp vốn thành lập mới doanh nghiệp nhiều thành viên; đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư (không chỉ giới hạn ở ngân sách nhà nước mà mở rộng sang mọi tài sản hợp pháp của Nhà nước); điều chỉnh linh hoạt danh mục ngành nghề tiếp nhận vốn để kịp thời xử lý các tình huống cấp bách của nền kinh tế.
  3. Đổi mới quy trình đầu tư và quản trị của doanh nghiệp: Tách bạch thủ tục đầu tư dự án phát triển với thủ tục mua sắm tài sản cố định định kỳ; bãi bỏ việc lồng ghép thủ tục hành chính của Luật Đầu tư công vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn nhà nước; cải cách quy chế bổ nhiệm nhân sự quản lý, áp dụng cơ chế tuyển dụng tổng giám đốc điều hành chuyên nghiệp và nâng cao tính độc lập của Ban kiểm soát/HĐQT.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn:

  • Hệ thống hóa số liệu thực chứng: Xử lý và công bố bức tranh tài chính đầy đủ của 826 doanh nghiệp có vốn nhà nước (vốn chủ sở hữu 1,45 triệu tỷ đồng, tổng tài sản 3,74 triệu tỷ đồng) và danh mục giải ngân 197.443 tỷ đồng vốn nhà nước giai đoạn 2016–2021.
  • Nhận diện chính xác xung đột thể chế: Chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý cốt lõi giữa Luật số 69/2014/QH13 với Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư 2020 và Nghị định số 148/2021/NĐ-CP (như việc chấm dứt Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp làm tê liệt nguồn vốn ứng cứu linh hoạt).
  • Đề xuất sửa đổi luật mang tính đón đầu: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi, thay thế toàn diện Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới lăng kính pháp lý tài chính công và cơ chế thực thi quyền chủ sở hữu vốn; chưa đi sâu phân tích các khía cạnh kỹ thuật kiểm toán chi tiết hoặc định giá tài sản vô hình, thương hiệu trong quá trình thoái vốn tại từng tổng công ty đặc thù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi tiến trình xây dựng dự thảo Luật sửa đổi Luật số 69/2014/QH13; mở rộng đánh giá thực nghiệm mô hình quản trị tại các doanh nghiệp nhà nước sau khi thoái vốn xuống dưới 50% vốn điều lệ.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh: Tham khảo hệ thống lý luận về vốn nhà nước và phương pháp phân tích thực trạng văn bản quy phạm pháp luật.
  • Cán bộ quản lý tại các cơ quan đại diện chủ sở hữu (CMSC, SCIC, Bộ Tài chính, Sở Tài chính các địa phương): Tham khảo số liệu tổng hợp giai đoạn 2015–2021 và các bài học so sánh quốc tế (mô hình Temasek và SASAC).
  • Phần đáng tham khảo nhất: Tiểu mục 2.2 và 2.3 tại Chương 2 (phân tích sự chồng chéo thẩm quyền giữa CMSC, SCIC và các Bộ; những vướng mắc pháp lý về nguồn vốn đầu tư sau khi ban hành Nghị định số 148/2021/NĐ-CP).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ quan nào hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước lớn nhất tại Việt Nam và quy mô nắm giữ là bao nhiêu?
Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC) là cơ quan đại diện chủ sở hữu tại 19 tập đoàn, tổng công ty lớn nhất cả nước, với tổng vốn chủ sở hữu trên 1 triệu tỷ đồng và tổng giá trị tài sản vượt 2,3 triệu tỷ đồng.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa mô hình SASAC (Trung Quốc) và Temasek (Singapore) được khóa luận chỉ ra là gì?
SASAC là cơ quan quản lý hành chính nhà nước quản lý trực tiếp DNNN về nhân sự, công việc và tài sản theo mệnh lệnh hành chính, chưa tách biệt quản lý nhà nước với quản trị doanh nghiệp. Ngược lại, Temasek Holdings vận hành thuần túy theo cơ chế công ty đầu tư thương trường chuyên nghiệp, thuộc Bộ Tài chính nhưng có tính độc lập cao, 40% nhân sự quản lý là chuyên gia quốc tế và tách rời việc điều hành kinh doanh khỏi chức năng chính sách của Chính phủ.

3. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất về nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp hiện nay là gì?
Trước đây, nguồn vốn linh hoạt được trích từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ khi Nghị định số 148/2021/NĐ-CP có hiệu lực, toàn bộ số dư quỹ này đã chuyển nộp về ngân sách nhà nước. Do đó, mọi hoạt động đầu tư vốn vào doanh nghiệp phải thực hiện theo quy trình dự toán chi đầu tư phát triển của Luật Ngân sách nhà nước, gây ách tắc và mất tính linh hoạt, kịp thời.

4. Khối 826 doanh nghiệp có vốn nhà nước đóng góp như thế nào vào ngân sách và quy mô tài sản trong năm 2021?
Tính đến 31/12/2021, tổng tài sản của 826 doanh nghiệp đạt 3.749.867 tỷ đồng, doanh thu đạt 2.128.254 tỷ đồng, lãi phát sinh trước thuế đạt 205.045 tỷ đồng và tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước đạt 323.876 tỷ đồng (trong đó 75% đến từ hoạt động kinh doanh nội địa).

5. Thực trạng kiêm nhiệm nhân sự quản trị tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối sau cổ phần hóa diễn ra như thế nào?
Theo số liệu phân tích trong khóa luận, trên 80% doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối có thành viên Hội đồng quản trị đồng thời kiêm nhiệm chức năng điều hành doanh nghiệp. Tình trạng này làm giảm tính độc lập, khách quan trong giám sát và hạn chế việc thu hút cổ đông chiến lược tư nhân.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Châu là công trình nghiên cứu chuyên sâu, phản ánh chân thực và toàn diện bức tranh pháp lý về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2015–2023. Tác giả đã kết hợp phân tích lý luận, kinh nghiệm quốc tế và hệ thống số liệu tài chính thực tế để chỉ rõ các rào cản về cơ chế đại diện chủ sở hữu, nguồn vốn đầu tư và quản trị doanh nghiệp hậu cổ phần hóa. Các giải pháp hoàn thiện được đề xuất trong khóa luận có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học xác đáng cho việc sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp trong giai đoạn tới.