CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH 1. Đặc điể m và vai trò của cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng bao gồm cơ sở vật chất cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của một khu vực. Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế gồm: Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và Hệ thống công trình hạ tầng xã hội.
- Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm các công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn,…. Thông qua hệ thống này các hoạt động kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa và các hoạt động hàng ngày được tiến hành, ngoài ra hệ thống giúp kết nối các khu vực với với nhau. Có thể nói hạ tầng kỹ thuật chính là động lực để phát triển kinh tế, thiếu hệ thống hạ tầng kỹ thuật dẫn đến các hoạt động rơi vào tình trạng tê liệt. - Hệ thống hạ tầng xã hội gồm công trình y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, nhà ở,….
Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Với tính chất đa dạng và thiết thực, cơ sở hạ tầng là nền tảng vật chất có Luan van 12 vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như mỗi vùng lãnh thổ. Có cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, phát triển cơ sở hạ tầng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế- xã hội ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng quyết định đến trình độ phát triển của đất nước, có tác động mạnh đến công tác xoá đói, giảm nghèo. Tóm lại, vai trò quan trọng của cơ sở hạ tầng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, gồm: - Sự phát triển của cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thu hút các luồng vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế- xã hội; - Cơ sở hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại là điều kiện để phát triển các vùng kinh tế động lực, các vùng trọng điểm và từ đó tạo ra các tác động lan toả lôi kéo các vùng liền kề phát triển. - Cơ sở hạ tầng phát triển trực tiếp tác động đến các vùng nghèo, hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng mà nâng cao điều kiện sống của hộ dân, có tác động lớn đối với công tác giảm nghèo; - Phát triển cơ sở hạ tầng tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân, góp phần giảm thiểu bất bình đẳng về mặt xã hội.
- Phát triển cơ sở hạ tầng góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. * Cơ sở hạ tầng có các đặc điểm sau: - Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các công trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, chiếm không gian rộng và có diện tích lớn, thời gian thu hồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn. Do vậy, việc huy động các nguồn vốn để phục vụ đầu tư cơ sở hạ tầng là khó Luan van 13 khăn, đòi hỏi phải các phương thức khác nhau để huy động. - Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng.
Mặt khác, việc đầu tư cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn. Do đó, Chính phủ đóng vai trò chủ yếu đối với đầu tư cơ sở hạ tầng. - Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng mang tính kỹ thuật cao, có quy mô lớn, phục vụ nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người,… không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai. Mặt khác, thời gian xây dựng và tồn tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài.
Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, thiết kế, thi công, vận hành và áp dụng công nghệ sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai, đồng thời phải tính toán chính xác trong các bước thiết kế, thi công và quản lý vận hành. - Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo, đây chính là điểm phân biệt giữa cơ sở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.
- Hiệu quả với nền kinh tế của cơ sở hạ tầng phải thông qua hiệu quả hoạt động của các hoạt động kinh tế - xã hội khác vì cơ sở hạ tầng sẽ quyết định chi phí sản xuất lưu thông và nhiều chi phí cơ hội khác mà chỉ có thể đo lường thông qua thay đổi sản lượng của nền kinh tế sau khi công trình đi vào hoạt động; - Cơ sở hạ tầng xây dựng trên đất và gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nơi đó. Điều kiện tự nhiên không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng công Luan van 14 trình mà quyết định luôn chi phí xây dựng và vận hành. Nên ngay từ khi thiết kế cho tới xây dựng và vận hành đều chịu sự tác động của thời tiết khí hậu và nhiều yếu tố khác, và nếu không chú ý sẽ ảnh hưởng tới tuổi thọ công trình và hiệu quả của nó. Khái niệm, đă ̣c điể m và vai trò của vốn đầu tư xây dư ̣ng cơ sở hạ tầng từ nguồ n ngân sách.
Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách. Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn sách nhà nước là một phận quan trọng trong vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế quốc dân và là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của một quốc gia. Dưới góc độ là một nguồn vốn đầu tư nói chung, vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn sách nhà nước được biểu hiện bằng tiền và tài sản phục vụ cho hoạt động đầu tư. Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13, ngày 26/11/2014 tại Điểm 18, Khoản 3 có định nghĩa: Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh [12].
Dưới góc độ là nguồn lực tài chính của quốc gia, vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách Nhà nước là các nguồn lực của xã hội tích lũy, tập trung vào ngân sách Nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản và thiết yếu phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của dân cư. Theo Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 tại Điểm 21, Điều 4 có quy định: “Vốn đầu tư công gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), và Luan van 15 vốn vay ưu đãi của các Nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư”[14]. Đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách. Thứ nhất, vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách nhà nước khó có khả năng thu hồi nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội do việc đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng đem lại là rất lớn và có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của từng địa phương.
Khác với vốn đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp (là loại vốn được sử dụng với mục đích sinh lợi cho doanh nghiệp) vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách nhà nước tập trung đầu tư vào các công trình công cộng phục vụ cho mục đích chung của đông đảo mọi người, lợi ích lâu dài cho một ngành, địa phương và cả nền kinh tế. Đây là một đặc điểm quan trọng, góp phần quyết định việc sử dụng vốn đầu tư sao cho mang lại hiệu quả cao nhất. Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hiện nay được phân cấp quản lý theo 3 loại dự án: dự án nhóm A, B, C và được phân cấp đầu tư theo luật định. Thứ hai, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách nhà nước gắn với Ngân sách nhà nước nói chung và chi ngân sách nhà nước nói riêng, gắn với phân cấp quản lý và sử dụng vốn.
Vì vậy, việc hình thành, phân phối sử dụng và thanh quyết toán nguồn vốn này được thực hiện chặt chẽ theo luật định và được cấp có thẩm quyền phê duyệt hàng năm.