Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Các khái niệm - Đầu tư: Là sự bỏ vốn ( chi tiêu vốn ) cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó ( tạo ra, khai thác, sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai.9] Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, của cải, công nghệ, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ, …), để tiến hành một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai. Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3 - Giải thích từ ngữ, khái niệm đầu tư được hiểu: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”.3] - Đầu tư cơ bản: Là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực KT - XH khác nhau.
Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó thành mục đích của mình. Xét về mặt tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các TSCĐ, nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ 10 tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả từng thời kỳ.11] - Đầu tư xây dựng cơ bản: Hoạt động đầu tư cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng để tạo ra các TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB. Đầu tư Xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau.
Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.12] - Ngân sách nhà nước: Theo quy định tại Điều 4, Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.2] - Đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước: Là hoạt động đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước để xây dựng và phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân.15] - Công trình, dự án đầu tư: Công trình đầu tư xây dựng cơ bản là sản phẩm, kết quả của các dự án đầu tư nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, của toàn xã hội được đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác [21, tr.26], ví dụ: Các công trình đường giao thông được xây dựng bằng tiền của Nhà nước, tiền đóng góp của các cá nhân và tổ chức; Trường dân lập được xây dựng từ phần vốn đóng góp của các cổ đông tư nhân và được quản lý bởi một hội đồng quản trị được thành lập trên cơ sở vốn góp. Tóm lại nói đến công trình đầu tư, người ta thường quan tâm nhiều đến tính năng sử dụng hơn là nguồn vốn đầu tư để tài trợ chúng. Một công trình đầu 11 tư được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: + Xác định thứ tự ưu tiên hay tầm quan trọng tương ứng của một dự án trên cơ sở của một hệ thống tiêu chuẩn lựa chọn, sàng lọc, phân loại và xếp hạng dự án rõ ràng, nhất quán và luôn được cập nhật cho phù hợp với tình hình thực tế. + Tập trung nguồn lực vào những dự án có hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, nhờ vậy chúng có thể thực thi nhanh chóng và phát huy hiệu quả trong thời gian hợp lý.
Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một tập hợp những đề xuất việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo, nâng cấp những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định [36, tr. Theo quy định tại Điều 51, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, dự án đầu tư xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu sau [36, tr.16]: + Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương nơi có dự án đầu tư xây dựng; + Có phương án công nghệ và phương án thiết kế phù hợp; + Bảo đảm chất lượng, an toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; + Bảo đảm cấp đủ vốn đúng tiến độ của dự án, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; + Tuân thủ quy định khác của pháp luật liên quan. - Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN: Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm tạo hành lang pháp lý và hỗ trợ các chủ đầu 12 tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước. Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN là quản lý việc thực hiện các dự án, các công trình đầu tư mà sản phẩm là các công trình công cộng.
Đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất. Đặc điểm và vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước 1. Đặc điểm và vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản a. Đặc điểm: - Đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư, máy móc lớn, ứ đọng trong thời gian dài trong suốt quá trình đầu tư.
Vì vậy trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn, chống lãng phí nguồn lực. - Đầu tư xây dựng cơ bản có thời gian thực hiện dài và thường gằp nhiều biến động. - Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài. Các thành quả của thành quả đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ, kim tự tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ở Roma, Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia, … - Các sản phẩm đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản thường là các tài sản cố định, đó phần lớn là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư.
- Đầu tư xây dựng cơ bản thường liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực. Vai trò: Nhìn một cách tổng quát, đầu tư xây dựng cơ bản trước hết là hoạt động đầu tư nên cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế , tăng cường năng lực khoa học và công nghệ của đất nước. Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, cụ thể: - Đầu tư xây dựng cơ bản đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và phương thức sản xuất. - Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và làm thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng, cụ thể: + Đầu tư xây dựng cơ bản ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư tác động đến sự mất cân đối của ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu để phát triển nhanh tốc độ mong muốn từ 9% đến 10% thì phải tăng cường đầu tư tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông lâm ngư nghiệp do những hạn chề về đất đai và khả năng sinh học để đạt đựơc tốc độ tăng trưởng từ 5% đến 6 % là một điều khó khăn.19] + Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.