CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về vốn đầu tư XDCB từ NSNN 1. Đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm Theo luật đầu tư của Việt Nam (2005) : đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật liên quan.[1] “Đầu tư là đem một khoản tiền của đã tích lũy được sử dụng vào một việc nhất định để sau đó thu lại một khoản tiền của có giá trị lớn hơn” “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai” Theo bách khoa toàn thư Việt Nam: “Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai.
Đầu tư vì thế còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ. Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân.
Việc gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng. Mặc dù đầu tư làm tăng năng lực sản xuất (phía cung của nền kinh tế), song việc xuất tư bản để đầu tư lại được tính vào tổng cầu. Đầu tư tư nhân I và đầu tư công cộng G là các nhân tố quan trọng hình thành tổng cầu Y: Y= C + I + G + X – M C: Tiêu dùng cá nhân X: Xuất khẩu M: Nhập khẩu Theo cách hiểu thông dụng nhất: “Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả nào đó’’[2] 3 Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các TSCĐ. Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm của đầu tư XDCB Đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhất. Bao gồm các đặc điểm sau: - Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn: hoạt động đầu tư XDCB đòi hỏi vốn đầu tư lớn nằm khê động lâu. Vì vậy trong quá trình đầu tư cần có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm, trọng điểm. - Thời gian đầu tư kéo dài, nhiều biến động : thời gian đầu tư tính từ khi khởi công xây dựng thực hiện dự án đến khi hoàn thành và đưa vào hoạt động, nhiều công trình có thời gian kéo dài hàng chục năm.
Do vốn lớn lại nằm khê động lâu trong quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kì đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn nợ động vốn đầu tư XDCB. - Đầu tư XDCB có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với những biến động xảy ra. Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý đầu tư XDCB, ví dụ như : giá cả, lạm phát, lãi suất…Vì vậy để thích ứng với đặc điểm này công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung : Thứ nhất : cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vi mô và vĩ mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án. 4 Thứ hai : quản lý tốt quá trình vận hành.
Thứ ba : chú ý đúng mức đến độ trễ thời gian trong đầu tư. - Cố định : các thành quả hoạt động đầu tư XDCB là các công trình xây dựng sẽ phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên do đó các điều kiện về vị trí địa lý, địa hình có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện cũng như việc phát huy kết quả đầu tư. Vì vậy cần bố trí hợp lý các điểm xây dựng để phù hợp với kế hoạch, quy hoạch để tạo điều kiện phát triển kinh tế lâu dài. - Liên quan đến nhiều ngành : hoạt động đầu tư XDCB diễn ra phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không chỉ ở một địa phương mà còn liên quan đến nhiều địa phương với nhau.
Chính vì vậy nên khi tiến hành hoạt động này cần phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quá trình đầu tư, đồng thời phải quy định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quá trình đầu tư. - Sản phẩm đầu tư XDCB là công trình gắn liền với đất xây dựng công trình: Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, điạ chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết …của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng là nơi đưa công trình vào khai thác và sử dụng. Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư XDCB phải dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình. - Sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc, mỗi hạng mục công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình địa chất thủy văn, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựng công trình.
Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công… và dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình. Vì vậy việc quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư. - Đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế - xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…nên sản phẩm xây dựng cơ bản có nhiều loại 5 hình công trình và mỗi loại công trình có những đặc điểm kinh tế kĩ thuật riêng. Quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Những đặc điểm của đầu tư XDCB nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của đầu tư XDCB và đòi hỏi cần phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư. Chính vì vậy, quản lý vốn NSNN trong đầu tư XDCB cần phải có những nguyên tắc nhất định, biện pháp, trình tự cấp quản lý, cấp phát vốn dựa trên cơ sở quản lý vốn NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của đầu tư XDCB. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm vốn đầu tư XDCB Theo nghị định 385 - HĐBT ngày 07 tháng 11 năm 1990 của HĐBT về việc sửa đổi bổ sung thay thế Điều lệ quản lý XDCB đã ban hành kèm theo Nghị định 232- CP ngày 06/06/1981 thì: “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán”.
[13] Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB : - Vốn ngân sách nhà nước: gồm ngân sách TW và ngân sách địa phương , được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản và một số nguồn khác dành cho đầu tư xây dựng cơ bản. - Vốn tín dụng đầu tư : gồm vốn của ngân sách Nhà Nước dùng để cho vay, vốn huy động của các đơn vị kinh tế trong nước và các tầng lớp dân cư. Vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế và kiều bào nước ngoài. - Vốn đầu tư XDCB tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế, với các đơn vị quốc doanh, vốn này hình thành từ lợi nhuận (sau khi đã nộp thuế cho Nhà Nước), vốn khấu hao cơ bản để lại, tiền thanh lý tài sản và các nguồn thu khác theo quy định của Nhà Nước.
- Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài. - Vốn vay nước ngoài : vốn do chính phủ vay theo hiệp định kí kết với nước 6 ngoài, vốn do đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ trực tiếp vay của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và vốn do ngân hàng đầu tư phát triển đi vay. - Vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài. - Vốn huy động của nhân dân bằng tiền, vật liệu hoặc công cụ lao động.