Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền địa phương cấp huyện Chương 2: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền địa phương cấp huyện tại huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền địa phương cấp huyện tại huyện Ứng Hòa 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước Đầu tư được hiểu là việc sử dụng các nguồn lực như vốn, nhân lực, vật lực vào hoạt động nào đó ở thời điểm hiện tại để nhằm đạt được kết quả, hiệu quả, lợi ích về kinh tế và xã hội lớn hơn trong tương lai [11]. Đầu tư có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: - Theo chủ thể đầu tư: đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước, đầu tư của tư nhân, đầu tư của doanh nghiệp có vốn nước ngoài; - Theo quy mô và tầm quan trọng của dự án đầu tư, các hoạt động đầu tư có thể chia thành: Các dự án quan trọng quốc gia; dự án nhóm A, B, C; - Theo lĩnh vực đầu tư: giao thông, thủy lợi, quốc phòng, an ninh… - Theo tính chất của sản phẩm hình thành: Đầu tư không có cấu phần xây dựng và đầu tư có cấu phần xây dựng (hay còn gọi là đầu tư XDCB).
Theo đó, đầu tư XDCB là một hình thức đầu tư phát triển, nhằm tạo ra cơ sở hạ tầng vật chất cho nền kinh tế như hệ thống giao thông đường bộ, các công trình kiến trúc sân bay, bến cảng,. Đầu tư XDCB là loại hình đầu tư gắn với mặt đất trên một không gian nhất định. Đầu tư XDCB có nhiều hình thức khác nhau như: xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp [14]. Thuật ngữ “vốn đầu tư XDCB” đã được sử dụng từ khá lâu trong thực tiễn quản lý nhà nước ở Việt Nam.
Ví dụ, Nghị định 385-HĐBT ngày 7 tháng 11 năm 1990 của HĐBT đã nêu rõ vốn đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua 10 sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán. Theo đó, vốn đầu tư XDCB được hiểu toàn bộ chi phí bỏ ra để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình xây dựng từ: (i) khâu chuẩn bị dự án; (ii) thực hiện dự án; đến khâu (iii) kết thúc xây dựng, đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng sử dụng [13]. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một bộ phận cấu thành của vốn đầu tư XDCB của xã hội nói chung, nhưng chỉ có điểm khác biệt cơ bản là: nguồn vốn để đầu tư XDCB là từ nguồn chi đầu tư phát triển của NSNN và nhằm mục đích thực hiện các chức năng của Nhà nước. Như vậy, có thể hiểu khái niệm vốn đầu tư XDCB từ NSNN là: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là một phần của vốn đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước dùng để xây mới, cải tạo, nâng cấp các cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân.
Căn cứ theo phân cấp quản lý NSNN, vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN được chia thành: Vốn đầu tư từ NSNN Trung ương và vốn đầu tư từ NSNN địa phương. Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách Trung ương nhằm để thực hiện đầu tư cho các dự án do chính quyền trung ương quản lý. Vốn đầu tư từ ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách địa phương nhằm thực hiện đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương. Việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách nhà nước địa phương thường được phân cấp cho các cấp chính quyền địa phương quản lý, sử dụng tuỳ theo từng địa phương.
Đặc điểm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN có những đặc điểm sau: - Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách gắn với hoạt động NSNN nói chung và hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp 11 về chi NSNN cho đầu tư phát triển. Do đó, việc hình thành, phân phối, sử dụng và thanh quyết toán nguồn vốn này được thực hiện chặt chẽ, theo luật định [13]. - Vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN chỉ phục vụ cho các dự án đầu tư công, đối tượng đầu tư công. Nhìn chung, các dự án đầu tư công thường là các dự án không có khả năng hoàn vốn trực tiếp, theo đó mục đích đầu tư XDCB từ nguồn NSNN không phải là lợi nhuận kinh tế mà là hiệu quả kinh tế chính trị xã hội tổng hợp.
Nguồn vốn này thường được xác định theo kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm và được tổng hợp vào NSNN. - Chủ thể quản lý vốn xây dựng cơ bản từ NSNN là các cơ quan nhà nước được uỷ quyền. Các chủ thể tham gia quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN phải thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo các quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng. - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN được gắn với các quy trình đầu tư và dự án đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến khâu kết thúc đầu tư và đưa vào sử dụng.
Việc sử dụng nguồn vốn này gắn với quá trình thực hiện và quản lý dự án đầu tư với các khâu liên hoàn với nhau từ khâu quy hoạch, khảo sát thiết kế, chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án, kết thúc dự án. Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Theo Nguyễn Thị Lan Hương (2019) thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN được phân loại như sau [19]: - Theo tính chất công việc của hoạt động XDCB, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được phân thành: vốn dành cho chi phí xây lắp (nay gọi là xây dựng), vốn dành cho chi phí thiết bị và vốn dành cho chi khác. Trong đó, chi phí xây dựng và chi phí thiết bị chiếm tỷ trọng chủ yếu. 12 - Căn cứ vào tính chất vốn, vốn đầu tư XDCB từ NSNN người ta phân chia thành các nhóm chủ yếu sau: Một là, vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tập trung: đây là vốn đầu tư được bố trí và thể hiện trong dự toán chi đầu tư phát tiển NSNN hàng năm.
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN tập trung loại vốn lớn nhất về cả quy mô và tỷ trọng. Việc thiết lập cơ chế, chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tập trung được sử dụng một cách rộng rãi trong quản lý đối với các loại vốn khác. Hai là, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng: Về bản chất, đây là nguồn kinh phí thường xuyên (chi sự nghiệp) dành để sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, xây mới các công trình xây dựng. Hàng năm ngân sách có bố trí vốn để phát triển một số sự nghiệp như giao thông, địa chất, đường sắt,.
Việc sử dụng nguồn kinh phí này được áp dụng cơ chế quản lý như vốn đầu tư XDCB. Tuy nhiên, từ năm 2020 trở lại đây, theo Luật Đầu tư công và Luật NSNN, nguồn kinh phí sự nghiệp chỉ được bố trí cho sửa chữa, không dùng cho cải tạo, nâng cấp, xây mới nên có thể loại bỏ nguồn vốn này khỏi vốn đầu tư XDCB từ NSNN. Ba là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN dành cho chương trình mục tiêu quốc gia, như: Chương trình mục tiêu quốc gia Nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Vốn đầu tư của chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện theo cơ chế riêng, được chính phủ ban hành trong từng giai đoạn, phù hợp với đặc điểm của chương trình mục tiêu gia.
Bốn là, nhóm vốn vay nước ngoài. Nguồn vốn vay ngoài nước chủ yếu là vay các tổ chức tài chính, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và một số nguồn vay khác. Các nguồn vốn này được ghi vào NSNN nhưng được quản lý theo cơ chế đã được thoả thuận với các nhà tài trợ nước ngoài. 13 Năm là, nhóm vốn đầu tư theo cơ chế đặc biệt như đầu tư cho các công trình an ninh quốc phòng, công trình khẩn cấp (chống bão lũ), công trình tạm.
Sự cần thiết phải quản lý vốn đầu tư xây dựng cở bản từ ngân sách Nhà nước Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp tác động đến các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng, như: hạ tầng kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng… mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; các dự án đầu tư từ NSNN được triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định theo định hướng XHCN. - Về mặt cầu: Đầu tư của Chính phủ sẽ tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lưu thông, tạo việc làm và thu nhập… Trong ngắn hạn, khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ kéo theo tổng cầu tăng, sản lượng cân bằng tăng theo dẫn đến cân bằng cung cầu mới. Trong dài hạn, điều chỉnh cung cầu có thể làm sản lượng cân bằng giảm so với mức tăng trong ngắn hạn nhưng nhìn chung đầu tư của chính phủ tăng vẫn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.