Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1.1 Vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục của chính quyền cấp huyện 1.1 Nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục 1.1 Khái niệm nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục (SNGD) Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2003 thì: Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Các đơn vị sự nghiệp giáo dục là các đơn vị hành chính sự nghiệp được nhà nước thành lập để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước giao. Để có thể duy trì hoạt động các đơn vị sự nghiệp giáo dục một cách có hiệu quả thì một trong những yếu tố căn bản đó là nguồn lực tài chính, trong đó chủ yếu là từ NSNN. Vì vậy có thể hiểu: Nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục là toàn bộ các khoản thu, chi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục trong một năm để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng đơn vị sự nghiệp giáo dục mà mỗi loại đơn vị sự nghiệp giáo dục có sự khác nhau về nguồn ngân sách. Cách xác định để phân loại đơn vị sự nghiệp giáo dục: Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thường xuyên = x 100 % Tổng số chi hoạt động thường xuyên của đơn vị (%) Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 Từ đó có: a) Đơn vị sự nghiệp giáo dục tự bảo đảm chi phí hoạt động: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%; là đơn vị đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp của đơn vị mình. b) Đơn vị sự nghiệp giáo dục tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%. c) Đơn vị sự nghiệp giáo dục do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống hoặc đơn vị sự nghiệp giáo dục không có nguồn thu.2 Thu và chi nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục của chính quyền cấp huyện * Chính quyền cấp huyện được thu các khoản sau: - Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp - Nguồn thu sự nghiệp - Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật.
* Chính quyền cấp huyện phải thực hiện các khoản chi sau: - Chi thường xuyên - Chi không thường xuyên - Sử dụng kinh phí tiết kiệm được (khoản chênh lệch thu lớn hơn chi) theo quy định của pháp luật.2 Vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục 1.1 Khái niệm vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách SNGD là vốn từ nguồn ngân sách nhà nước cấp hàng năm cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục để chi đầu Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 9 tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc chi sửa chữa, cải tạo, mở rộng nâng cấp cơ sở vật chất hiện có nhằm phục hồi hoặc tăng giá trị tài sản cố định (bao gồm cả việc xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở giáo dục đã có của các cơ quan đơn vị sự nghiệp giáo dục). Chi vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục thực chất là chi nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục có tính chất đầu tư xây dựng; là một loại chi “lưỡng tính” vừa mang tính chất thường xuyên vừa mang tính không thường xuyên. Mang tính không thường xuyên vì chi sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sỏ vật chất tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục không phải là khoản chi ổn định, đều đặn hàng năm như chi cho con người, chi quản lý hành chính. Tuy nhiên, vì nó là khoản chi phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp giáo dục, không phải là khoản chi xây dựng những cơ sở hạ tầng then chốt như đầu tư XDCB nên trong tổng hợp chi ngân sách nhà nước, nó được xếp vào chi thường xuyên.
Bản chất của vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục là nguồn vốn sự nghiệp mang tính chất đầu tư. Vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục không phải là một khái niệm cơ bản trong lý thuyết về tài chính công mà là một khái niệm được đặt ra xuất phát từ yêu cầu quản lý và phân cấp quản lý ngân sách. Tại cơ quan tài chính luôn có bộ phận chuyên trách quản lý cấp phát các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục. Bộ phận này nắm chắc tình hình chi ngân sách thực tế của đơn vị.
Khoản chi sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất của các đơn vị sự nghiệp giáo dục được bố trí nguồn vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp và quản lý cấp phát chung với các khoản chi thường xuyên khác, vì vậy, cơ quan quản lý dễ theo dõi tình hình chi ngân sách của các đơn vị đồng thời bố trí kế hoạch chi phù hợp với thực tế và yêu cầu nhiệm vụ được giao của đơn vị. Không được dùng nguồn vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 10 dục để đầu tư xây dựng mới, trừ việc sử dụng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan, đơn vị. Các dự án xây dựng mới phải xin kinh phí từ nguồn vốn đầu tư XDCB.2 Đặc điểm của vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục của chính quyền cấp huyện Thứ nhất, Vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục thường có quy mô nhỏ, chỉ bao gồm các dự án nhóm B, C và cũng chỉ giới hạn mức vốn từ 20 triệu lên đến mức vốn hợp lý dành cho sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp. Bản thân vốn đầu tư là một bộ phận của chi thường xuyên mà chi thường xuyên lại là một bộ phận của tổng chi ngân sách nhà nước.
Tỷ trọng chi vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư XDCB trong chi thường xuyên cũng không cao. Vì vây, trong tổng chi ngân sách nhà nước, vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp sự nghiệp giáo dục chiếm tỷ trọng không đáng kể. * Dự án thuộc nhóm B là những dự án có một trong những điều kiện sau: a) Các dự án: công nghiệp điện, dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ có mức vốn từ 30 đến 600 tỷ đồng. b) Các dự án: Thủy lợi, giao thông, cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng; kỹ thuật điện; sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông; BOT trong nước; xây dựng khu nhà ở; trường phổ thông, đường giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt có mức vốn từ 20 đến 400 tỷ đồng.
c) Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thủy tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, thiết bị xây dựng; sản xuất nông. lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản; chế biến nông, lâm sản có mức vốn từ 15 đến 300 tỷ đồng. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 11 d) Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác có mức vốn từ 7 đến 200 tỷ đồng. * Dự án thuộc nhóm C là những dự án có một trong những điều kiện sau: a) Các dự án: công nghiệp điện, dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ có mức vốn dưới 30 tỷ đồng.
b) Các dự án: Thủy lợi, giao thông, cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng; kỹ thuật điện; sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông; BOT trong nước; xây dựng khu nhà ở; trường phổ thông, đường giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt có mức vốn dưới 20 tỷ đồng. c) Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thủy tinh,, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, thiết bị xây dựng; sản xuất nông. lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản; chế biến nông, lâm sản có mức vốn từ dưới 15 tỷ đồng. d) Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác có mức vốn dưới 7 tỷ đồng.
Thứ hai, Vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách SNGD được phân cấp quản lý đến cấp quận/huyện; tức là, ngân sách quận/huyện được ngân sách tỉnh, thành phố bố trí cho một khoản vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng và UBND quận, huyện được UBND tỉnh, thành phố phân cấp quyết định đầu tư với các dự án thuộc phạm vi này. Thứ ba, Đối tượng sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách sự nghiệp giáo dục là các cơ đơn vị sự nghiệp giáo dục, do nhà nước thành lập để thực hiện Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 12 các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo chung của nhà nước. Các đơn vị sự nghiệp giáo dục hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận và được nhà nước đảm bảo toàn bộ hoặc một phần kinh phí.