Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ĐTXDCB là việc sử dụng vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất (giản đơn và mở rộng), hiện đại hoá, hoặc khôi phục tài sản cố định.
Vốn ĐTXDCB bao gồm: vốn cho xây lắp; vốn đầu tư thiết bị; vốn đầu tư phí xây dựng cơ bản khác làm tăng giá trị tài sản cố định. Vốn ĐTXDCB được hình thành từ các nguồn vốn khác nhau, trong đó nguồn vốn ĐTXDCB từ NSNN là nguồn vốn chính được dành cho đầu tư kết cấu hạ tầng KTXH. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, vốn ĐTXDCB được hình thành từ: Vốn NSNN; Vốn tín dụng đầu tư; Vốn tự có của các đơn vị SXKD dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế quốc dân; Vốn hợp tác, liên doanh với nước ngoài; Vốn vay nước ngoài. Trong các nguồn vốn trên, nguồn vốn ĐTXDCB từ NSNN là nguồn vốn chủ yếu, không có khả năng thu hồi trực tiếp.
Đó là các công trình/dự án cơ sở hạ tầng như đường điện, trường học, bệnh viện, hệ thống thuỷ lợi, đường giao thông,…các dự án trồng rừng (đầu nguồn, phòng hộ); các công trình/dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, phát triển kinh tế xã hội; các công trình/ dự án văn hoá xã hội, công cộng; các công trình/dự án quốc phòng, an ninh. ĐTXDCB từ NSNN là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung được dưới hình thức: Thuế, phí, lệ phí. để đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội. 9 Vốn ĐTXDCB là khoản vốn đầu tư được ưu tiên hàng đầu trong tổng vốn đầu tư NSNN.
Chi ĐTXDCB từ NSNN được thực hiện hàng năm nhằm mục đích để đầu tư xây dựng các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu hồi vốn. Chi ĐTXDCB là vốn đầu tư cho đầu tư phát triển. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản Quản lý vốn ĐT XDCB là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý nhằm đạt được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư một cách cao nhất trong điều kiện cụ thể xác định. Còn quản lý vốn ĐTXDCB của các Ban quản lý các dự án cấp huyện được hiểu là sự tác động có mục đích của các Ban quản lý các dự án cấp huyện trong việc sử dụng vốn ĐTXDCB nhằm đạt được hiệu quả sử dụng vốn NSNN một cách cao nhất trong điều kiện cụ thể xác định.
Mục tiêu của quản lý vốn NSNN trong ĐTXDCB của các Ban quản lý các dự án cấp huyện là nâng cao hiệu quả KTXH của vốn ĐTXDCB nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của cộng đồng dân cư và xã hội. Do đó, để quản lý hiệu quả cần có cơ chế quản lý phù hợp, bao gồm các quy định về nội dung, trình tự, tổ chức bộ máy và những quy định về trách nhiệm trong quá trình thực thi. Chính sách công và chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1. Chính sách công Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải: Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội”.
Quan điểm của Viện Chính trị học cho rằng: “…chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng”. Theo tác giả Lê Như Thanh (2016): Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao 10 gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển”. Chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản Chính sách quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN được hiểu là chức năng và hoạt động của hệ thống tổ chức nhằm đề ra các chính sách để quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN một cách có hiệu quả đảm bảo việc xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế phát triển. * Nội dung chính sách quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN Lập kế hoạch phân bổ vốn đầu tư: Lập kế hoạch đầu tư đóng vai trò quan trọng trong quản lý vốn ĐTXDCB.
Việc lập kế hoạch một cách khoa học sẽ giúp các địa phương chủ động đầu tư có định hướng, tránh đầu tư chồng chéo, thiếu đồng bộ gây ra các lãng phí về nguồn lực. Để làm tốt điều này, trước tiên phải xây dựng được phương hướng/chiến lược đầu tư khoa học, hợp lý, xác định các ngành, lĩnh vực ưu tiên, từ đó xác định được cơ cấu vốn đầu tư theo ngành/vùng và theo nhóm dự án. Để đảm bảo tính khả thi thì cần thiết phải thẩm định, thẩm định vốn ĐTXDCB cho DAĐT là việc kiểm tra lại các điều kiện, quy định cần phải đảm bảo cho DAĐT trước khi phê duyệt. Vốn ĐTXDCB cho DAĐT sử dụng vốn NSNN để đầu tư phát triển phải được thẩm định.
Giải ngân vốn đầu tư: Việc giải ngân vốn ĐTXDCB là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi khối lượng công việc hoàn thành. Vấn đề là phải kết hợp được hài hòa lợi ích của chủ đầu tư và nhà thầu. Nguyên tắc chung trong việc giải ngân, đó là kỳ hạn giải ngân càng ngắn thì càng có lợi cho cả hai bên với điều kiện đảm bảo có khối lượng được nghiệm thu, đồng thời đảm bảo vốn cho nhà thầu thi công và thúc đẩy tiến độ thi công. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát sử dụng vốn đầu tư: Thanh tra, kiểm tra, giám sát là một khâu quan trọng trong quản lý vốn ĐTXDCB.
Việc thanh, 11 kiểm tra, giám sát nhằm tìm ra các ưu điểm để phát huy; đồng thời phát hiện những sai lệch so với mục tiêu để điều chỉnh kịp thời. Mặt khác, qua việc thanh, kiểm tra, giám sát có thể phát hiện những điểm bất hợp lý trong hoạt động quản lý để kịp thời sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp. Theo quy định chung về quản lý vốn ĐTXDCB cho DAĐT, việc giám sát, đánh giá đầu tư đối với vốn ĐTXDCB cho DAĐT xây dựng công trình cần thực hiện đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước trên 50% tổng mức đầu tư; tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư (Người quyết định đầu tư hoặc người ủy quyền quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giám sát, đánh giá đầu tư. Để có cơ sở cho công tác đánh giá dự án, Bộ ra quyết định đầu tư cần phải theo dõi vốn ĐTXDCB cho DAĐT, nội dung theo dõi, kiểm tra vốn ĐTXDCB cho DAĐT của người có thẩm quyền quyết định đầu tư.
Bên cạnh việc theo dõi vốn ĐTXDCB cho DAĐT, Bộ ra quyết định đầu tư phải lập kế hoạch kiểm tra vốn ĐTXDCB cho DAĐT tổ chức kiểm tra vốn ĐTXDCB cho DAĐT do mình quyết định đầu tư ít nhất 01 lần đối với các dự án có thời gian thực hiện dài hơn 12 tháng; Tổ chức kiểm tra các vốn ĐTXDCB cho DAĐT khi điều chỉnh dự án làm thay đổi địa điểm, quy mô, mục tiêu, vượt tổng mức đầu tư từ 30% trở lên. Các trường hợp kiểm tra khác khi cần thiết: Cơ quan QLNN về đầu tư quyết định tổ chức kiểm tra vốn ĐTXDCB cho DAĐT theo kế hoạch hoặc đột xuất. Trên cơ sở kiểm tra, theo dõi các vốn ĐTXDCB cho DAĐT mình quản lý, Bộ chức năng đưa ra những đánh giá dự án và đưa ra các giải pháp giải quyết quyết các vấn đề phát sinh, tồn đọng. Tổ chức nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư: Việc quyết toán vốn ĐTXDCB của một dự án là tổng kết, tổng hợp tất cả các khoản thu, vốn đầu tư để làm rõ tình hình thực hiện một vốn ĐTXDCB cho DAĐT.
Việc quyết toán vốn đầu tư công trình XDCB hoàn thành có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý vốn ĐTXDCB, thể hiện ở chỗ: Một là, thông qua quyết toán vốn đầu tư, chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan nắm được đầy đủ tình hình thu vốn đầu tư 12 của dự án; Xác định được đúng giá trị tài sản cố định và nguồn vốn hình thành tài sản cố định làm cơ sở tính toán chính xác giá trị hao mòn tài sản cố định vào giá thành sản phẩm, xác định đúng thu nhập và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp NSNN, từ đó tăng cường hạch toán kinh tế…; Hai là, thông qua quyết toán vốn đầu tư giúp cho Nhà nước nắm được tình hình và tốc độ đầu tư của các đơn vị, các ngành, các thành phần kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế để hoạch định đúng đắn các chính sách kinh tế; Ba là, thông qua công tác quyết toán vốn đầu tư để đánh giá kết quả qua quá trình đầu tư rút kinh nghiệm nhằm tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư phù hợp với tình hình hiện nay. Do vậy, quyết toán vốn ĐTXDCB của một dự án phải đạt được hai yêu cầu cơ bản, đó là: (i) Quyết toán vốn đầu tư phải đúng đắn, chính xác, phải được xác định theo đúng nguồn vốn hình thành, vốn đầu tư qua các năm và quy đổi được giá trị về thời điểm bàn giao để đưa công trình/dự án vào khai thác sử dụng; (ii) Quyết toán vốn đầu tư phải đảm bảo tính kịp thời, đó là việc xác định giá trị tài sản cố định đưa vào sản xuất, sử dụng được kịp thời nhằm quản lý tốt tài sản cố định đó, xác định được chính xác giá trị hao mòn, tăng cường hạch toán kinh tế. Để đảm bảo hai yêu cầu này thì cần thiết phải có những quy định cụ thể về nội dung đối với công tác quyết toán đầu tư; đồng thời, cần công khai quyết toán rộng rãi cho toàn bộ cán bộ, công nhân viên trong cơ quan của chủ đầu tư, giám sát, nhà thầu, cơ quan cấp vốn, cơ quan quản lý nhà nước… 1.