Chương 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN Ở NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Khái quát chung về việc làm của thanh niên ở nông thôn trên địa bàn huyện 1. Một số khái niệm liên quan *Khái niệm “Việc làm” Con người là một nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Họ trở thành động lực cho sự phát triển khi họ có nhiều điều kiện sử dụng sức lao động để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho bản thân, gia đình họ và cho xã hội.
Khái niệm việc làm được nhiều nhà kinh tế học, xã hội học quan tâm, tìm hiểu dưới nhiều góc độ, phạm vi đối tượng khác nhau của các ngành khoa học như xã hội học, kinh tế học, chính sách công, quản lý công… Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về thuật ngữ “Việc làm”. Thực tiễn hoạt động quản lý ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (Như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp, phong tục tập quán…) cũng hình thành nên các quan niệm về việc làm khác nhau. Khái niệm việc làm còn bị chi phối bởi nhiều các quan niệm, lối tư duy cũ vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của con người trong xã hội. Vì vậy, cho đến nay chưa có một định nghĩa chung mang tính khái quát bao trùm về việc làm.
Dưới góc độ lý luận, Mác cho rằng: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó” [7, tr. Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Trong thực tế, việc làm thường được biểu hiện dưới 3 hình thức sau đây: Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc có thể là 11 Luan van nhận hiện vật cho công việc đó. Nói theo cách khác thì, NLĐ bỏ công sức ra lao động và được nhận lại thành quả lao động của chính mình sau một quá trình tham gia vào hoạt động lao động có thể bằng chân tay hoặc lao động bằng trí óc. Hai là, tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập.
Tuy nhiên hoạt động này phải phù hợp với chuẩn mực của xã hội dưới góc độ pháp lý, sẽ không coi là việc làm nếu hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật và không được pháp luật thừa nhận. Ba là, yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Quan niệm này tương đối bao trùm, tuy nhiên trên thực tế có nhiều hoạt động không bị pháp luật cấm nhưng tạo ra thu nhập chưa rõ ràng (tạo ra lợi ích phi vật chất hoặc lợi ích gián tiếp) vẫn chưa được coi là việc làm; đồng thời có những hoạt động tạo ra thu nhập rõ ràng nhưng luật pháp có quốc gia ngăn cấm thì vẫn chưa được thừa nhận là việc làm, trong đó luật pháp có quốc gia cho là hợp pháp thì lại được thừa nhận là việc làm. Cho nên quan niệm trên còn bộc lộ rõ hai hạn chế cơ bản sau: Thứ nhất: Hoạt động nội trợ rõ ràng đảm bảo tính thường xuyên, không bị pháp luật cấm, ít nhiều đã tạo ra chuỗi giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình.
Tuy nhiên, hoạt động nội trợ trong thực tế lại chưa được coi là việc làm và chưa được xác định có tính nghề nghiệp. Thứ hai: Quan niệm về việc làm giữa các quốc gia nó còn phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán, đạo đức… để xác lập tính hợp pháp của hoạt động lao động được coi là việc làm. Theo khái niệm việc làm được đưa ra trong từ điển Tiếng Việt: “Việc làm là công việc được giao cho làm và được trả công” [22, tr. Khái niệm này tương đối rộng, tuy nhiên nó chưa phản ánh được toàn diện hình 12 Luan van thức việc làm trong hoạt động hàng ngày, bởi việc làm có thể tồn tại các trạng thái: Có người giao (Thể hiện mang tính quyền lực), làm một cách tự nguyện, thiện nguyện giúp đỡ người khác khi không có tác động sai khiến, hoặc người lao động hoàn toàn có thể tự tạo ra việc làm để có thu nhập mà không cần phải ai giao việc cho.
Trong đó, quan điểm khác lại cho rằng: “Việc làm (Tiếng Anh là job, career) hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người. Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên, người tình nguyện, hoặc bắt đầu việc buôn bán. Thời hạn cho một công việc có thể nằm trong khoảng từ một giờ (Trong trường hợp các công việc lặt vặt) hoặc cả đời (Trong trường hợp của các thẩm phán). Nếu một người được đào tạo cho một loại công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp.
Tập hợp hàng loạt các công việc của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ” [46]. Dưới góc độ pháp lý theo quan niệm quốc tế: Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, tổ chức năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (Viết tắt là ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm với các biểu hiện như sau: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, được trả tiền công, có lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì thu nhập hay vì lợi ích gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [5, tr. Như vậy, người có việc làm bao gồm những NLĐ đang làm việc ở cả trong và ngoài khu vực nhà nước có thu nhập đem lại vật chất để nuôi sống cho bản thân, gia đình hoặc mang lại lợi ích cho xã hội. Đây là khái niệm khá mềm dẻo, phù hợp với nền kinh tế thị trường theo hướng hiện đại trên cả hai phương diện kết cấu và thể chế, do đó được phần đông các quốc gia đang sử 13 Luan van dụng làm quan niệm của việc làm.
Tiếp cận dưới góc độ pháp lý theo quan niệm ở Việt Nam: Quy định tại Khoản 1 Điều 9 Bộ Luật Lao động năm 2012 và khoản 2 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 thì: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Từ cách tiếp cận này cho thấy, nội hàm của khái niệm việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: Hoạt động lao động - Tạo ra thu nhập - Hoạt động đó phải hợp pháp, cụ thể: Thứ nhất, là hoạt động lao động của con người, thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Thứ hai, là hoạt động tạo ra thu nhập. Thu nhập chính là nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy NLĐ làm việc để tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho bản thân, gia đình và cho xã hội.
Thứ ba, dưới khía cạnh pháp lý thì hoạt động tạo ra thu nhập chỉ được coi là việc làm khi hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Đây là cách quan niệm về việc làm tương đối rộng, linh hoạt và mềm dẻo. Việc chuẩn hóa khái niệm việc làm tạo cơ sở đồng nhất về mặt nhận thức, thống nhất cho lĩnh vực điều tra, nghiên cứu và hoạch định chính sách về việc làm. *Khái niệm thanh niên, thanh niên ở nông thôn: Theo quy định tại Điều 1 Luật Thanh niên năm 2005, thanh niên quy định là công dân Việt Nam từ đủ 16 (Mười sáu) tuổi đến 30 (Ba mươi) tuổi.
Thanh niên là khái niệm dùng để chỉ những người nằm trong độ tuổi chuyển tiếp giữa lớp, lứa thiếu niên và trưởng thành. Đây là khoảng thời gian con người trải qua giai đoạn quá độ hoàn thiện dần bản thân cả về thể chất, tinh thần, về sinh lý, tâm lý, tri thức, đạo đức và nhân cách để trở thành một công dân trưởng thành trong xã hội. Tuy nhiên, tùy thuộc vào cơ cấu độ tuổi dân số của các quốc gia trên thế giới mà có những quy định khác nhau về độ 14 Luan van tuổi cụ thể được coi là thanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi. Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, độ tuổi từ 15 đến 34 được coi thuộc cơ cấu lực lượng lao động trẻ; trong khi đó, thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi từ 15 đến 24 để hàm ý thanh niên ở độ tuổi này bao gồm những người đã kết thúc việc học tập ở nhà trường sớm nhất (15 tuổi đối với chương trình Trung học cơ sở) và kết thúc đào tạo nghề nghiệp ở cấp Đại học (Khoảng 22- 24 tuổi).
Luận văn này, được nghiên cứu cụ thể trong phạm vi thuộc lãnh thổ Việt Nam, để sử dụng các số liệu, thông tin phù hợp với các nhóm lứa tuổi quy định trong các báo cáo, niên giám thống kê về lao động, việc làm, thì thanh niên được hiểu bao gồm những người có từ đủ 15 tuổi đến 30 tuổi. Như vậy, thanh niên ở nông thôn cũng được hiểu là những người trong độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến 30 tuổi sinh sống ở những vùng, địa phương có cơ cấu tỷ trọng ngành nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp, cộng đồng cư dân nông thôn và có thu nhập chủ yếu từ những hoạt động lao động trên. Đây là đặc trưng rất cơ bản của vùng nông thôn. Khái niệm về nông thôn và việc làm của thanh niên ở nông thôn - Khái niệm về nông thôn: Cho đến nay, chưa có định nghĩa nào về nông thôn được chấp nhận rộng rãi.
Nếu tham chiếu so sánh và nhận định rằng, nông thôn là khu vực có mật độ dân số thấp hơn khu vực thành thị thì chưa thuyết phục, vì chỉ tiêu này khác nhau giữa các quốc gia và ngay ở Việt Nam có một số khu vực nông thôn so với nhiều thị xã thì mật độ dân số thực tế còn cao hơn.