Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ XÃ NGHI SƠN 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn hóa 1. Các quan niệm và khái niệm: 1.
Quản lý Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đã đề ra” [5, tr. Trong cuốn giáo trình: Những vấn đề cơ bản của quản lý hành chính nhà nước của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - NXB Lý luận chính trị năm 2020 thì “ Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thế quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định” [ 51, tr.Angghen: “Quản lý là một trạng thái tất yếu phải có nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hợp tác của một số đông người, khi có sự phối hợp của nhiều người” [28]. Nghiên cứu của Mai Hữu Khuê (2003), Với tư cách thực hành thì: “Quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tố chức về quản lý là một khoa học, tác giả cho rằng quản lý là việc tác động chủ thể lên đối tượng quản lý bằng các phương pháp nhằm đạt được mục tiêu” [44, tr. Trong cuốn giáo trình khoa học quản lý của tác giả Phan Huy Cương: “Quản lý được hiểu là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” [14].
Như vậy trong hoạt động quản lý phải có chủ thể quản lý, khách thể quản lý, các công cụ quản lý và phương pháp quản lý nhằm hướng tới mục tiêu đã đề ra. Từ những phân tích trên, luận văn sử dụng khái niệm sau: Quản lý được hiểu là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định. Quản lý nhà nước Trong cuốn giáo trình: Những vấn đề cơ bản của quản lý hành chính nhà nước - của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Nxb Lý luận chính trị năm 2020 thì “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và các tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương, nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước” [51, tr. Cùng với khái niệm nêu trên, trong cuốn giáo trình có thêm một cách hiểu về quản lý nhà nước một cách ngắn gọn “Quản lý nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực - tổ chức của cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền tới đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu do chủ thể quản lý nhà nước đặt ra” [ 51, tr.
Quản lý nhà nước về văn hóa QLNN về văn hóa là một bộ phận của QLNN đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy vậy, vì những đặc thù riêng của văn hóa, QLNN về văn hóa cũng có nhiều điểm riêng biệt. Theo nghĩa rộng, QLNN về văn hóa được thực hiện thông qua ba cơ quan trong bộ máy nhà nước: Cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Theo nghĩa hẹp, QLNN về văn hóa được thể hiện trong hoạt động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành các hoạt động văn hóa, được thể hiện bởi hệ thống bộ máy các cơ quan hành pháp như Chính phủ, Bộ VHTT&DL; UBND cấp tỉnh; Sở VHTT&DL; UBND cấp huyện; Phòng VH&TT cấp huyện; UBND cấp xã… Theo sách Lược sử QLVH ở Việt Nam của tác giả Hoàng Sơn Cường thì: “QLVH là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [20, tr.
Trong cuốn giáo trình Luật hành chính, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND năm 2008 có viết: “Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam” [47]. 12 QLNN về văn hóa là sự tác động liên tục có tổ chức có chủ đích bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý là các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý đối với khách thể là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa nhằm đạt được mục tiêu mong muốn, bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân. Thực chất của QLNN về văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành của nhà nước, mục đích là làm cho văn hóa phát triển theo hướng vì sự phát triển bền vững của con người và xã hội. Vậy có thể hiểu: Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác quản lý nhà nước về văn hóa hiện nay 1. Văn bản pháp lý của Trung ương Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước; xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo. Để thực hiện được mục tiêu đó, Nhà nước đề ra nhiều văn bản pháp lý liên quan đến công tác QLNN về văn hóa, cụ thể một số văn bản sau: Luật di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [54]. 13 Quyết định số 271/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc “phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở đến năm 2010”.
Đối tượng của quy hoạch là các Trung tâm văn hóa - Thông tin hoặc Nhà Văn hóa trung tâm, Trung tâm Thông tin - Triển lãm cấp tỉnh; Trung tâm văn hóa, Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện; Nhà Văn hóa cấp xã, Nhà Văn hóa thôn, làng, ấp, bản; Cung Văn hoá, Nhà Văn hóa thuộc các Bộ, ngành, lực lượng vũ trang.[57] Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 2030. Nghị định số 110/2018/NĐ-CP quy định về quản lý và tổ chức lễ hội trên lãnh thổ Việt Nam [50]. Thông tư số 08/2014/TT - BVHTTDL, ngày 24 tháng 9 năm 2014 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc "Quy định chi tiết tiêu chuẩn trình tự, thủ tục xét và công nhận “Cơ quan đạt chuẩn về văn hóa”, “Đơn vị đạt chuẩn văn hóa”, “Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa”[61]. Luật du lịch số 90/2017/QH14 quy định về tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và hoạt động du lịch; quyền, nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến du lịch; quản lý nhà nước về du lịch.
Luật thư viện số 46/2019/QH14 quy định về thành lập, hoạt động thư viện; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện; quản lý nhà nước về thư viện[56]. Thông tư 05/2014/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sửa đổi, bổ sung Điều 6 của Thông tư 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của trung tâm văn hóa - thể thao xã [62]. Các văn bản pháp lý trên đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam bằng chiến lược, chương trình cụ thể với mục đích QLVH đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, thể thao của các tầng lớp nhân dân; đồng thời làm nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương. Văn bản pháp lý của Địa phương Thanh Hóa là một tỉnh có nền văn hóa địa phương vô cùng phong phú, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của toàn thể tầng lớp nhân dân song song với đó là nhiệm vụ QLNN về văn hóa.
Tỉnh Thanh Hóa đã đề ta một số văn bản pháp lý trong công tác QLNN về văn hóa như sau: Chỉ thị số 09/CT – UBND ngày 06/7/2010 của Chủ tịch UBND Tỉnh về việc thực hiện kết luận số 51-KL/TƯ ngày 22/7/2009 của Bộ chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội [12]. Công văn số 461/SVHTTDL - NSVH ngày 24 tháng 3 năm 2014 Giám đốc Sở văn hóa Thể thao và Du Lịch Tỉnh Thanh Hóa, về việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ”[14]. Công văn số 1034/SVHTTDL - NSVH ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Giám đốc Sở văn hóa Thể thao và Du Lịch tỉnh Thanh Hóa về việc triển khai thực hiện thông tư số 05/2014/TT- BVHTTDL về sửa đổi, bổ sung, nội dung thông tư số 12/2010/TT- BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [15].