CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm chung 1.1 Thuế Nhìn từ góc độ xã hội, thuế là khoản đóng góp, bằng tài sản cho nhà nước do pháp luật quy định thành nghĩa vụ đối với các cá nhân hoặc tô chức, đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của nhà nước. Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Dé duy tri sự ton tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất dé thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội.
Bang quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội dé có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Thu thuế được thực hiện từ hình thức thu bằng hiện vật chuyền dần sang thu dưới hình thức giá trị. Điều đó cũng có nghĩa, thuế xuất hiện ban đầu có hình thức biểu hiện rất đơn giản.
Quan hệ phu phen, cống nạp là những loại thuế thể hiện dưới hình thức hiện vật dần có sự phic tạp hơn - hình thức sưu, thuế được cắt đất một cách thống nhất trong phạm vi lãnh thổ. Đến khi tiền tệ ra đời, hình thức thuế thu bằng tiền làm giảm nhẹ sự nghiệt ngã của các hình thức cống nộp. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, song song với việc xóa bỏ hệ thống thuế phi nhân đạo (thuế thân, thuế muối, thuế thô trạch.), Nhà nước dần dần hình thành hệ thống thuế mới. Cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, hệ thống thuế của Việt Nam ngay càng di tới sự ôn định và hoàn thiện.
Như vậy, thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và ton tại cùng với các hiện tượng kinh tế-xã hội khác. Sự xuất hiện, phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế xã hội ấy. Thuế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo các nhà kinh tế học thì “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tai sản của người dân dé dùng vào việc chỉ tiêu của nhà nước”.
Đối với các chuyên gia luật thuế nhận định: “Thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách. Thuế không có bat kỳ sự phân biệt đối xử nao giữa các bang hay vùng lãnh thổ”. Với cách nhìn nhận khách 18 quan về thuế, có thé thay bản chat của thuế là loại quan hệ phân phối gắn với nhà nước, loại quan hệ giữa nhà nước với người nộp thuế. Bản chất này không thay đổi trong những xã hội có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau.
Bất ké xã hội nao cũng thé hiện quan hệ thu và nộp như nhau. Như vậy, Thuế là khoản tiền mà chính phủ đánh vào thu nhập của cá nhân và doanh nghiệp (thuế trực thu) hoặc vào hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu).2 Thuế thu nhập cá nhân a. Khái niệm, chức năng, vai trò của thuế thu nhập cá nhân e Khái niệm: Thuế thu nhập cá nhân có thể được hiểu là một loại thuế trực thu, được đánh vào một số cá nhân có thu nhập cao. e Chức năng, vai trò: + Thuế TNCN góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: Thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng là công cụ chủ yếu của Nha nước nhằm huy động một bộ phận của cải trong xã hội nham tao ra nguồn thu cho Ngân sách nha nước.
Mức thu thuế sẽ tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân trong xã hội, có nghĩa là thu nhập càng cao thì thuế TNCN càng cao. Ngoài ra, thuế TNCN còn góp phan hạn chế sự that thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho cá nhân dé làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp đề trốn thuế TNDN thì các cá nhân nhận được những khoản nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế TNDN.
+ Thuế TNCN góp phần thực hiện công bang xã hội, giảm phân hóa giàu nghèo, giúp Nhà nước tái phân phối sản phẩm xã hội. Có thé nói đây là vai trò đặc trưng và cơ bản nhất của thuế TNCN. Đó là vì thuế TNCN điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân cùng với tính chất lũy tiến của thuế TNCN đã thu hẹp khoảng cách về thu nhập của các cá nhân có mức thu nhập chênh lệch nhau. Tính công bằng của thuế TNCN còn được thé hiện ở chỗ nghĩa vụ thuế được áp dụng trên cơ sở có tính đến điều kiện và hoàn cảnh sống của người nộp thuế.
Người nộp 19 thuế không bị giới hạn về các khoản giảm trừ gia cảnh; số lần tham gia từ thiện, nhân đạo,. Như vậy, cùng có thu nhập băng nhau nhưng các cá nhân có thé phải thực hiện những nghĩa vụ thuế khác nhau nếu số lượng người phụ thuộc của họ không giống nhau. Đây là một đặc điểm mà các loại thuế gián thu không thể tính đến được bởi vì nghĩa vụ thuế chỉ có cơ chế phát sinh khi hành vi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ xảy ra. Ở nhiều nước con có quy định miễn, giảm thuê cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội.
+ Thuế TNCN là công cụ gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế, chính sách xã hội của Nhà nước. Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bang cho xã hội mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Loại thuế này ảnh hưởng trực tiếp đến tiết kiệm và nhằm làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm. Ngoài ra nhà nước cũng phải xây dựng một hệ thống thu thuế, dé từ đó đánh giá được tình hình thu nhập của dân cư cũng như thực trạng của nền kinh tế.
Nhà nước cũng có thể khuyến khích người dân đầu tư hay không đầu tư, tiết kiệm hay không tiết kiệm thông qua việc đánh thuế hay không đánh thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiết kiệm. Nhà nước còn có thé xây dựng các chính sách kinh tế khác phù hợp với thị trường như chính sách vệ việc làm, chính sách bao hiém, trợ cap xã hội,. + Thuế TNCN góp phần giúp nhà nước kiểm soát thu nhập, phát hiện thu nhập bất hợp pháp. Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân xuất phát từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được cũng như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng cắm, trốn thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc của nhà nước,.
Những hành vi ảnh hưởng rất xâu đến đời sống kinh tế — xã hội của các quốc gia. Phải kết hợp nhiều biện pháp ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó có vai trò của thuế TNCN. Quy định về thuế thu nhập cá nhân e Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân 20 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 quy định như sau: (1) Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại mục 3 phát sinh trong và ngoài lãnh thô Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại mục 3 phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. (2) Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: - Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục ké từ ngày dau tiên có mặt tại Việt Nam; - Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê đề ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi 2014) thì thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại mục 4: (1) Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm: - Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; - Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. Thu nhập từ kinh doanh quy định tại khoản này không bao gồm thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống. (2) Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm: - Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; - Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; 21 Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ. (3) Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm: - Tiền lãi cho vay; - Lợi tức cổ phan; - Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.