MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện Rừng là lá phổi xanh của nhân loại, rừng có giá trị nhiều mặt cho con người, nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Trong rừng có nhiều loại cây khác nhau. Ðây là nguồn thực phẩm, nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp và dược phẩm, là nguồn gen có giá trị trong lai tạo giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi.
Rừng bảo vệ và cải tạo đất, rừng có tác dụng điều hoà dòng chảy trong sông ngòi và dưới đất. Rừng cản không cho dòng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác liệt của từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời gian không mưa. Do đó những vùng có nhiều rừng che phủ sẽ giảm bớt được thiên tai hạn hán và lũ lụt.
Rừng càng nằm gần đầu nguồn sông, tác dụng điều hoà dòng chảy càng lớn hơn [19]. Hiện nay, do các nhu cầu ngày càng tăng của mình, con người không thể không khai thác rừng. Tuy nhiên, nếu biết khai thác một cách hợp lý và có kế hoạch trồng rừng thích hợp, chúng ta sẽ vẫn vừa thoả mãn được các nhu cầu của mình, vừa không làm tổn hại đến rừng. Việc khai tác tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí, không có kế hoạch, việc xả thải bừa bãi vào môi trường của con người đã dẫn tới chất lượng môi trường đang bị giảm sút nghiêm trọng.
Sự giảm sút này thể hiện ở việc suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, diện tích rừng đang tiếp tục có xu hướng bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây mất đa dạng sinh học đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có, tài nguyên nước đang dần bị cạn kiệt kéo theo tình 2 trạng thiếu nước trên thế giới ngày càng lan rộng, nạn khô hạn kéo dài, gây nhiều hậu quả về kinh tế và xã hội cho nhiều vùng rộng lớn, trữ lượng chất đốt hóa thạch đang giảm sút đột ngột trong khi tiêu thụ năng lượng ngày một gia tăng, các nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu đang bị ô nhiễm trầm trọng. Và con người đang phải gánh chịu những hậu quả từ việc suy thoái chất lượng môi trường như việc biến đổi khí hậu dẫn tới nạn hạn hán, lũ lụt, sóng thần. diễn ra ngày càng thường xuyên. Việc phải có những hành động, biện pháp cụ thể để bảo vệ bển vững tài nguyên rừng là cần thiết.
Thái Nguyên hiện có trên 186 nghìn ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên trên 76 nghìn ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt gần 53%. Những năm gần đây, tỉnh đã tập trung thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng tự nhiên; đồng thời, đẩy mạnh công tác phát triển rừng, đặc biệt là trồng rừng sản xuất và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng để giúp người dân tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh [2]. Đồng Hỷ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, là một huyện nằm phía Đông Bắc của Thành phố Thái Nguyên.
Trung tâm huyện cách Thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km. Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 46.177,34 ha, diện tích dất lâm nghiệp là 23.691,00 ha, chiếm 45,86% tổng diện tích tự nhiên. Huyện có 03 thị trấn, 17 xã. Ở huyện Đồng Hỷ “cuộc chiến” bảo vệ rừng còn nhiều khó khăn, phức tạp bởi các đối tượng vi phạm rất tinh vi và manh động.
Chúng biết lợi dụng kẽ hở của cơ chế chính sách để khai thác, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép, cuộc sống của đồng bào miền núi còn nghèo khó, dễ bị kẻ xấu lợi dụng là các vụ: Phá rừng phòng hộ Ngàn Me và rừng Khe Cạn…[2]. Để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, Ngày 04/10/2007 Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành Quyết định số 83/2007/QĐ- BNN, quy định về nhiệm vụ công chức Kiểm lâm địa bàn xã (thay thế Quyết 3 định số 105/2000/QĐ-BNN ngày 17/10/2000), với phương châm "Kiểm lâm bám dân, bám rừng, bám chính quyền cơ sở”. Để tham mưu giúp chính quyền cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 23/NĐ-CP ngày 23/3/2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng. Mục tiêu nhằm nâng cao năng lực Kiểm lâm địa bàn xã, làm thay đổi căn bản công tác bảo vệ rừng, chuyển hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong khâu lưu thông sang tổ chức bảo vệ rừng tận gốc, giám sát nơi tiêu thụ, chế biến lâm sản, nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, nâng cao nhận thức của nhân dân để tham gia bảo vệ và phát triển rừng, giúp người làm kinh tế rừng yên tâm đầu tư góp phần làm tăng độ che phủ của rừng [14].
Kiểm lâm địa bàn có vai trò quan trọng là một phần không thể thiếu trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên rừng quý giá. Để bổ trợ cho những kiến thức đã học tại trường (đặc biệt nghiệp vụ kiểm lâm) và để hiểu rõ hơn công tác quản lý bảo vệ rừng của kiểm lâm địa bàn nên tôi đã chọn đề tài “Báo cáo công việc của kiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”. Đề tài hoàn thành là tài liệu tham khảo cho sinh viên đang học hoặc mới ra trường làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện - Tìm hiểu các văn bản Luật và dưới Luật có liên quan đến công tác kiểm lâm địa bàn.
- Đánh giá công tác kiểm lâm địa bàn của Hạt trong những năm qua (2014-2016). - Tham gia vào công việc hàng ngày của các kiểm lâm viên địa bàn và ghi chép lại chi tiết các công việc đó vào nhật kí. 4 - Đề xuất một số giải pháp và rút ra bài học kinh nghiệm nhằm tăng cường hiệu quả công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống và củng cố lại những kiến thức đã học, đặc biệt những kiến thức về quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Giúp cho sinh viên bước đầu làm quen, hiểu thêm về kiến thức điều tra ngoài thực tế không những hoàn thiện về mặt lý thuyết mà cả về mặt thực hành, làm quen với công việc của những chiến sĩ Kiểm lâm địa bàn khi thực hiện nhiệm vụ, từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng học tập. Làm tiền đề cho mỗi sinh viên sau khi ra trường có kiến thức vững vàng để bước vào cuộc sống sau này, đặc biệt khi thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển triển rừng. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Sau khi nghiên cứu sẽ đóng góp một phần nhất định trong việc đề xuất một số bài học kinh nghiệm khi xử lý các tình huống thực thể của người Kiểm lâm địa bàn ở các cơ sở được phân công nhiệm vụ.
Đề tài giúp sinh viên khi thực tập nắm bắt được công việc cụ thể phải thực hiện của mỗi chiến sỹ Kiểm lâm địa bàn, phương pháp, cách thức xử lý các vụ việc xảy ra về quản lý bảo vệ và phát triển rừng, sẽ tạo tiền đề gắn những kiến thức đã học vào thực tế, củng cố và rút ra những bài học thực tế cho bản thân người học, cũng như giải quyết các sự việc cụ thể tại địa phương. 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học về Kiểm lâm địa bàn Kiểm lâm địa bàn cấp xã là công chức nhà nước thuộc biên chế của Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ (dưới đây gọi chung là Hạt Kiểm lâm) phân công về công tác tại địa bàn xã, phường, thị trấn có rừng (sau đây gọi chung là Kiểm lâm địa bàn) chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm. Trách nhiệm của Kiểm lâm địa bàn cấp xã được quy định rất rõ trong Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN của Bộ trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ký ngày 04 tháng 11 năm 2007, cụ thể như sau [16]: (1) Tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường và thị trấn có rừng (dưới đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng, đất lâm nghiệp, bao gồm: - Xây dựng phương án, kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện sau khi phương án được phê duyệt.
- Đề xuất việc quy hoạch diện tích sản xuất nương rẫy và kiểm tra việc thực hiện hướng dẫn công tác giao rừng. - Xây dựng các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. - Huy động lực lượng dân quân tự vệ, các lực lượng và phương tiện khác trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng, chống phá rừng trái phép, phòng trừ sâu hại rừng. - Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định của pháp luật.
- Xác nhận về nguồn gốc lâm sản theo quy định của pháp luật. (2) Thực hiện nhiệm vụ nghiệp vụ sau: 6 - Báo cáo và đề nghị với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm về công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn. - Phát hiện những vụ phá rừng, khai thác rừng, vận chuyển, buôn bán lâm sản và động vật rừng trái phép báo cáo kịp thời với Hạt trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ngăn chặn, xử lý kịp thời. - Thống kê, kiểm kê rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn được phân công.
- Kiểm tra hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật. - Hướng dẫn và giám sát các chủ rừng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, gây nuôi trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật hoang dã. - Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. - Xử lý các vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
(3) Tham gia các hoạt động về lâm nghiệp khác khi Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã giao.