Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ - BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN 1. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hóa - Tylor, Edward (1871): Văn hóa (Culture/ˈkʌltʃər/ KUL-chər) là một khái niệm bao gồm hành vi xã hội, các cơ sở, và quy tắc đƣợc tìm thấy trong các xã hội con ngƣời, cũng nhƣ kiến thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, luật pháp, phong tục, khả năng, và thói quen của cá nhân trong những nhóm này.
Văn hóa thƣờng xuất phát từ hoặc đƣợc gán cho một khu vực hoặc địa điểm cụ thể. Con ngƣời học đƣợc văn hóa thông qua quá trình học hỏi của việc nhận thức hóa và xã hội hóa, điều này đƣợc thể hiện qua sự đa dạng của văn hóa ở các xã hội khác nhau. [40] - Thay đổi văn hóa, hoặc việc đặt lại vị trí, là sự xây dựng lại khái niệm văn hóa của một xã hội. Văn hóa bị ảnh hƣởng từ bên trong thông qua các lực lƣợng thúc đẩy sự thay đổi và các lực lƣợng đề kháng sự thay đổi.
Văn hóa bị ảnh hƣởng từ bên ngoài thông qua sự tiếp xúc giữa các xã hội. Các tổ chức nhƣ UNESCO cố gắng bảo tồn văn hóa và di sản văn hóa. - Văn hóa đƣợc coi là một khái niệm trung tâm trong nhân học, bao gồm sự đa dạng của hiện tƣợng đƣợc truyền tải thông qua học hỏi xã hội trong các xã hội con ngƣời. Các đặc điểm văn hóa phổ quát đƣợc tìm thấy trong tất cả các xã hội con ngƣời.
Chúng bao gồm các biểu thức nhƣ nghệ thuật, âm nhạc, vũ điệu, nghi lễ, tôn giáo và công nghệ nhƣ việc sử dụng công cụ, nấu ăn, xây dựng, và trang phục. Khái niệm văn hóa vật chất bao gồm các biểu thức vật lý của văn hóa, chẳng hạn nhƣ công nghệ, kiến trúc và nghệ thuật, trong khi các khía cạnh vô hình của văn hóa nhƣ nguyên tắc tổ chức xã hội (bao gồm cả các thực hành tổ chức chính trị và các tổ 16 chức xã hội), thần thoại, triết học, văn học (cả văn bản và truyền miệng) và khoa học bao gồm di sản văn hóa vô hình của một xã hội. [31] Nhìn chung: Văn hóa là một khái niệm đa chiều và đa dạng, khó định nghĩa cụ thể và cố định nào về văn hóa. Tuy nhiên, văn hóa thƣờng đƣợc hiểu nhƣ một tập hợp các giá trị, thực tiễn, niềm tin, kiến thức, nghệ thuật, thực hành và mô hình xã hội mà con ngƣời xây dựng và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Văn hóa là cách mà một nhóm ngƣời hoặc một cộng đồng thể hiện bản sắc và danh tính của họ thông qua ngôn ngữ, tôn giáo, thực hành, lối sống, nghệ thuật, và nhiều khía cạnh khác. Văn hóa có thể bao gồm các yếu tố nhƣ giá trị, thứ tự xã hội, lịch sử, truyền thống, và cách con ngƣời tƣơng tác với nhau và với môi trƣờng xung quanh. Nó thƣờng thể hiện ở mọi khía cạnh của cuộc sống, bao gồm cả lối ứng xử, thảo nguyên, và tƣ duy. Văn hóa có vai trò quan trọng trong việc xác định danh tính cá nhân và cộng đồng, cũng nhƣ trong việc tạo ra mối liên kết và tƣơng tác giữa các nhóm và cá nhân trong xã hội.
Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể - Di sản văn hóa là di sản của các tài sản văn hóa có hình thể và vô hình của một nhóm hoặc xã hội đƣợc kế thừa từ các thế hệ trƣớc. Không phải tất cả di sản của các thế hệ trƣớc đều là "di sản"; thay vào đó, di sản là một sản phẩm đƣợc xã hội lựa chọn. [36] Thuật ngữ này thƣờng đƣợc sử dụng trong liên quan đến các vấn đề liên quan đến bảo vệ tài sản trí tuệ bản địa. - Di sản đƣợc bảo tồn đã trở thành một trụ cột của ngành du lịch toàn cầu, đóng góp quan trọng vào giá trị kinh tế của cộng đồng địa phƣơng.
[36] - Di sản văn hóa là một thuật ngữ để chỉ các giá trị văn hóa, thực hành, và tài liệu có giá trị lịch sử, truyền thống, và nghệ thuật mà đƣợc xem xét là quan trọng và đáng quý đối với một cộng đồng, một quốc gia, hoặc loài ngƣời nói chung. Di sản văn hóa bao gồm các yếu tố nhƣ: + Di sản phi vật thể: Điều này bao gồm truyền thống lời bài hát, câu chuyện kể, phong tục và lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, kiến thức và thực hành truyền thống mà con ngƣời thế hệ trƣớc đã truyền đạt cho thế hệ sau. 17 + Di sản vật thể: Điều này liên quan đến các đối tƣợng vật lý có giá trị văn hóa, chẳng hạn nhƣ tƣợng điêu khắc, tranh, tòa nhà cổ, công cụ truyền thống, và các tài liệu lịch sử nhƣ sách cổ, bƣu thiếp và bản ghi chép. + Kết nối với lịch sử và bản sắc văn hóa: Nó giúp duy trì và thể hiện nhận thức về những giá trị và truyền thống quan trọng của một nhóm ngƣời.
+ Sự quản lý và bảo tồn: Di sản văn hóa cần đƣợc bảo tồn và quản lý để đảm bảo rằng nó sẽ đƣợc giữ lại và truyền cho thế hệ tƣơng lai. Các tổ chức nhƣ UNESCO và các cơ quan quản lý văn hóa thƣờng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và duy trì di sản văn hóa. - Di sản văn hóa phi vật thể (ICH/Intangible cultural heritage) là một thực hành, biểu đạt, sự hiện diện, kiến thức hoặc kỹ năng đƣợc UNESCO xem xét là một phần của di sản văn hóa của một địa điểm. Các công trình kiến trúc, địa điểm lịch sử, tƣợng đài và hiện vật là tài sản văn hóa.
Di sản phi vật thể bao gồm tài sản trí tuệ nhƣ truyền thống, phong tục, niềm tin, truyền thống, kiến thức và ngôn ngữ. Di sản văn hóa phi vật thể đƣợc các quốc gia thành viên của UNESCO xem xét liên quan đến Di sản Thế giới vật chất tập trung vào các khía cạnh phi vật chất của văn hóa. Năm 2001, UNESCO đã tiến hành một cuộc khảo sát trong các quốc gia và Tổ chức phi chính phủ để thử đạt đƣợc sự đồng thuận về định nghĩa, và Hiệp định bảo tồn Di sản Văn hóa Phi vật thể đã đƣợc soạn thảo vào năm 2003 để bảo vệ và thúc đẩy nó. [29] - Luật di sản văn hóa (2009) quy định rõ: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng đƣợc tái tạo và đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”.
[17] Tóm lại có thể hiểu: Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các khía cạnh văn hóa như truyền thống, trình diễn, kiến thức, ngôn ngữ, âm nhạc, vũ đạo, thần thoại, và nhiều khía cạnh khác của cuộc sống văn hóa mà con người truyền đạt và duy trì qua thế hệ. Di sản văn hóa phi vật thể không thể thấy hoặc chạm vào bằng cách 18 thông thường mà thường thể hiện thông qua hành vi, truyền đạt miệng và các thực hành văn hóa. Ví dụ về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm truyền thống lễ hội, ca hát truyền thống, câu chuyện kể, các thực hành tôn giáo và tín ngưỡng, và các kiến thức truyền đạt trong cộng đồng. Khái niệm giá trị văn hóa Qua các khái niệm về văn hóa có thể thấy rằng yếu tố cốt lõi của văn hóa là hệ giá trị.
Vậy giá trị văn hóa là gì? - Ngô Đức Thịnh (2010, tr.24) cho rằng “giá trị văn hoá (Cultural Value) do con ngƣời trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhƣng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định hƣớng cho các mục tiêu, phƣơng thức và hành động của con ngƣời trong các xã hội ấy. Nó chính là một thứ vốn xã hội (Social Capital). Vì thế, khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hƣớng, chi phối, điều tiết của hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con ngƣời. Cũng nhƣ văn hoá, giá trị đƣợc sản sinh từ các mối quan hệ con ngƣời với tự nhiên, với xã hội”.
[21] - Nghị quyết Trung ƣơng chín (Khóa XI) cũng nhấn mạnh “Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con ngƣời có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nƣớc, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”. [2] Từ các góc nhìn trên, có thể khẳng định: Giá trị văn hóa là những ý nghĩa, niềm tin, quan niệm, chuẩn mực được một cộng đồng hoặc xã hội nhất định coi trọng và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giá trị văn hóa thể hiện những gì con người cho là tốt đẹp, đúng đắn, đáng trân trọng và hướng đến trong đời sống tinh thần và vật chất. Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên - Khái niệm Cồng chiêng: Cồng chiêng (Gong: Từ tiếng Indonesia và Malay: gong; tiếng Javanese: ꦒꦒꦒꦒ gong; tiếng Trung: 鑼; phiên âm: luó; tiếng Nhật: 銅鑼どら, phiên âm: dora; tiếng Khmer:គ ង kong; tiếng Thái: khong; tiếng Việt: cồng chiêng; 19 tiếng Assamese: kãh) là một công cụ gõ xuất phát từ Đông Á và Đông Nam Á.
Cồng chiêng là các đĩa kim loại phẳng hình tròn thƣờng đƣợc đánh bằng một cây gậy đánh. Chúng có thể có kích thƣớc nhỏ hoặc lớn và có thể điều chỉnh âm thanh hoặc cần phải đƣợc điều chỉnh. Các biểu tƣợng sớm nhất có thể về Cồng chiêng xuất hiện trên bề mặt của chiếc trống đồng Ngọc Lũ I (khoảng thế kỷ 3-2 trƣớc CN) thuộc văn hóa Đông Sơn ở phía bắc Việt Nam. Nó miêu tả những bộ Cồng chiêng gồm bảy chiếc cùng với các nhạc cụ khác (bao gồm cymbal/chuông và chính các chiếc trống đồng).
[34] Lần đề cập lịch sử lớn nhất về các chiếc Cồng chiêng có thể tìm thấy trong các tƣ liệu Trung Quốc thế kỷ 6 sau CN, mô tả nó nhƣ một nhạc cụ nƣớc ngoài đến từ một quốc gia nằm giữa Tây Tạng và Miến Điện. Thuật ngữ "gong" xuất phát từ đảo Java, Indonesia. Nghiên cứu khoa học và khảo cổ đã xác định rằng Miến Điện, Trung Quốc, Java và Annam là bốn trung tâm sản xuất Cồng chiêng chính của thế giới cổ đại.