Nghiên cứu khai thác tri thức địa phương của một số dân tộc thiểu số gắn với bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể phục vụ phát triển du lịch bền vững tỉnh tuyên quang

Nghiên cứu về khai thác tri thức bản địa, bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc thiểu số Tuyên Quang, thúc đẩy du lịch bền vững. Tìm hiểu ngay!

Trường đại học

Học viện Dân tộc

Chuyên ngành

Nghiên cứu khai thác tri thức địa phương của một số dân tộc thiểu số gắn với bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể phục vụ phát triển du lịch bền vững tỉnh Tuyên Quang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Chuyên đề

2024

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ CAO LAN Ở TỈNH TUYÊN QUANG

1.1. Địa bàn cư trú

1.2. Hoạt động kinh tế

1.3. Hoạt động văn hoá

1.3.1. Một số đặc điểm về văn hoá vật chất

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tri Thức Địa Phương Cao Lan Tại Tuyên Quang

Tuyên Quang, vùng đất giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc, sở hữu bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú. Trong đó, người Cao Lan nổi bật với những giá trị văn hóa đặc sắc, tri thức bản địa Cao Lan được lưu giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ. Nghiên cứu về thực trạng tri thức địa phương của người Cao Lan là vô cùng quan trọng để có thể xây dựng phương án bảo tồn văn hóa Cao Lanphát triển du lịch bền vững. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm đến việc đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội cho các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng gây ra không ít ảnh hưởng tiêu cực đến việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, đặc biệt là di sản văn hóa Cao Lan. Việc nghiên cứu này giúp làm rõ thêm sự phong phú, đa dạng của văn hoá Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khai thác, ứng dụng tri thức địa phương phục vụ phát triển kinh tế du lịch bền vững.

1.1. Dân tộc Cao Lan Nguồn gốc và phân bố địa lý tại Tuyên Quang

Người Cao Lan có nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc, di cư vào Việt Nam từ đời nhà Minh, là 1 ngành của dân tộc Sán Chay. Tại Tuyên Quang, người Cao Lan có số lượng đông nhất trong cả nước và đứng thứ 4 trong tổng dân số các dân tộc. Họ cư trú tập trung ở các huyện Sơn Dương và Yên Sơn, chủ yếu là vùng đồi núi thấp, gần sông suối, thuận lợi cho việc canh tác lúa nước. Mặc dù gần các trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính của tỉnh, người Cao Lan vẫn giữ được hầu hết phong tục, tập quán và bản sắc riêng của mình.

1.2. Tri thức bản địa Cao Lan Yếu tố then chốt của bản sắc văn hóa

Tri thức bản địa Cao Lan bao gồm các phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian, kỹ năng sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, kiến thức về y học cổ truyền... Những tri thức này được truyền miệng từ đời này sang đời khác, hình thành nên bản sắc văn hóa độc đáo của người Cao Lan. Việc bảo tồn tri thức địa phương không chỉ là bảo tồn di sản văn hóa mà còn là bảo tồn nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng. Theo thống kê, dân tộc Cao Lan thống kê 42 di sản, trong đó 18 di sản đang bị mai một. Từ năm 2013 đến nay đã có 10 di sản của tỉnh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia trong đó có hát Sình ca (dân tộc Cao Lan).

II. Thực Trạng Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Cao Lan Vấn Đề Cấp Bách

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn văn hóa Cao Lan, nhưng trên thực tế, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị mai một. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của quá trình hội nhập, đô thị hóa, sự thay đổi trong lối sống và tư duy của thế hệ trẻ. Phong tục tập quán Cao Lan có nguy cơ bị lãng quên, nghề thủ công truyền thống Cao Lan mất dần người kế thừa. Nếu không có những giải pháp kịp thời, di sản văn hóa Cao Lan sẽ dần biến mất, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến bản sắc văn hóa dân tộc và tiềm năng phát triển du lịch bền vững Tuyên Quang.

2.1. Mai một tri thức dân gian Thách thức bảo tồn văn hóa Cao Lan

Tri thức dân gian Cao Lan về y học cổ truyền, nông nghiệp, thời tiết đang dần bị mai một do sự du nhập của các phương pháp hiện đại. Thế hệ trẻ ít quan tâm đến việc học hỏi và kế thừa những kiến thức truyền thống này. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của cộng đồng mà còn làm mất đi một phần quan trọng của di sản văn hóa Cao Lan.

2.2. Nguy cơ thất truyền nghề thủ công truyền thống Cao Lan độc đáo

Nghề thủ công truyền thống Cao Lan như dệt vải, đan lát đang gặp nhiều khó khăn do thiếu nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hạn chế và ít người theo học. Các sản phẩm thủ công truyền thống dần bị thay thế bởi các sản phẩm công nghiệp, làm mất đi nét độc đáo và giá trị văn hóa của người Cao Lan.

2.3. Biến đổi trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lễ hội truyền thống Cao Lan

Các lễ hội truyền thống Cao Lan như lễ hội xuống đồng, lễ cầu mùa... đang dần bị đơn giản hóa hoặc biến tướng do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài. Nhiều phong tục tập quán tốt đẹp bị lãng quên, thay vào đó là những thói quen sinh hoạt không phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc. Nguy cơ thất truyền các loại hình nghệ thuật truyền thống (hát sình ca, múa chuông), các trò chơi dân gian.

III. Giải Pháp Bảo Tồn Văn Hóa Cao Lan Phát Triển Du Lịch

Để bảo tồn di sản văn hóa Cao Lan và phát huy giá trị của nó trong phát triển du lịch bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của văn hóa Cao Lan, khuyến khích thế hệ trẻ tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy tri thức địa phương. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, tạo điều kiện cho người Cao Lan tham gia vào các hoạt động du lịch, góp phần tăng thu nhập và bảo tồn văn hóa. Quan trọng nhất, các hoạt động bảo tồn và phát triển du lịch phải được thực hiện một cách có trách nhiệm, đảm bảo không làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và bản sắc văn hóa Cao Lan.

3.1. Nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa Cao Lan thông qua giáo dục

Tăng cường giáo dục về văn hóa Cao Lan trong nhà trường và cộng đồng, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về lịch sử, phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống của dân tộc mình. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ văn hóa, các lớp học nghề thủ công truyền thống để khuyến khích sự tham gia của giới trẻ.

3.2. Phát triển du lịch cộng đồng Cơ hội phát huy bản sắc Cao Lan

Xây dựng các sản phẩm du lịch cộng đồng gắn liền với văn hóa Cao Lan, như homestay, trải nghiệm cuộc sống, tham quan làng nghề, thưởng thức ẩm thực truyền thống. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch là người Cao Lan, giúp họ có thể tự quản lý và điều hành các hoạt động du lịch. quảng bá các địa điểm du lịch tại Tuyên Quang liên quan đến văn hóa Cao Lan để thu hút khách du lịch đến tham quan và tìm hiểu.

3.3. Chính sách hỗ trợ bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Cao Lan

Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo tồn văn hóa, như phục dựng các lễ hội truyền thống, hỗ trợ các nghệ nhân, khuyến khích phát triển nghề thủ công truyền thống. Xây dựng các bảo tàng, trung tâm văn hóa để trưng bày và giới thiệu về văn hóa Cao Lan. Tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội, cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn.

IV. Nghiên Cứu Ứng Dụng Hiệu Quả Du Lịch Cộng Đồng Tại Tuyên Quang

Nghiên cứu cho thấy, mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với văn hóa Cao Lan đã mang lại những hiệu quả tích cực về kinh tế, xã hội và văn hóa. Du lịch đã tạo thêm nguồn thu nhập cho người Cao Lan, giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần. Đồng thời, du lịch cũng góp phần nâng cao ý thức về bảo tồn văn hóa của cộng đồng, khuyến khích thế hệ trẻ tham gia vào các hoạt động văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, để phát triển du lịch bền vững, cần có sự quản lý chặt chẽ, tránh tình trạng khai thác quá mức và làm ảnh hưởng đến môi trường và bản sắc văn hóa Cao Lan.

4.1. Tác động kinh tế Du lịch cộng đồng tăng thu nhập cho người Cao Lan

Du lịch cộng đồng tạo cơ hội cho người Cao Lan tham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch, như cung cấp dịch vụ homestay, bán sản phẩm thủ công, hướng dẫn viên du lịch... Từ đó, tăng thêm thu nhập cho gia đình và cộng đồng, góp phần giảm nghèo và nâng cao đời sống.

4.2. Tác động xã hội Du lịch cộng đồng tăng cường gắn kết cộng đồng

Du lịch cộng đồng tạo điều kiện cho người Cao Lan giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ các cộng đồng khác, tăng cường sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng. Đồng thời, du lịch cũng góp phần nâng cao vị thế của người Cao Lan trong xã hội.

4.3. Tác động văn hóa Du lịch cộng đồng nâng cao ý thức bảo tồn

Du lịch cộng đồng giúp người Cao Lan nhận thức rõ hơn về giá trị của văn hóa dân tộc, từ đó nâng cao ý thức về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Du lịch cũng tạo động lực cho thế hệ trẻ học hỏi và kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống.

V. Triển Vọng Tương Lai Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Vùng Cao Lan

Tri thức địa phươngdi sản văn hóa Cao Lan có tiềm năng to lớn trong phát triển du lịch bền vững Tuyên Quang. Để khai thác hiệu quả tiềm năng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch và các tổ chức xã hội. Cần xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, gắn liền với văn hóa Cao Lan, đồng thời đảm bảo không làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và bản sắc văn hóa.

5.1. Phát triển sản phẩm du lịch độc đáo dựa trên tri thức bản địa

Xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa, ẩm thực, nghề thủ công truyền thống, lễ hội... dựa trên tri thức bản địa Cao Lan. Chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp gắn liền với văn hóa của người dân.

5.2. Đảm bảo tính bền vững trong phát triển du lịch cộng đồng

Quản lý chặt chẽ các hoạt động du lịch, tránh tình trạng khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và văn hóa. Đảm bảo lợi ích của người Cao Lan trong các hoạt động du lịch. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hóa cho cộng đồng.

5.3. Hợp tác để phát triển du lịch bền vững

Tăng cường sự hợp tác giữa các cấp chính quyền, cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch và các tổ chức xã hội trong công tác bảo tồn văn hóaphát triển du lịch. Xây dựng mạng lưới liên kết giữa các điểm du lịch, các làng nghề truyền thống để tạo thành chuỗi giá trị du lịch.

VI. Kết Luận Bảo Tồn Di Sản Cao Lan Cho Thế Hệ Mai Sau

Việc bảo tồn di sản văn hóa Cao Lanphát triển du lịch bền vững là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần có sự chung tay góp sức của tất cả các bên liên quan để bảo tồn những giá trị văn hóa độc đáo của người Cao Lan cho thế hệ mai sau. Bảo tồn văn hóa Cao Lan cũng là bảo tồn sự đa dạng văn hóa của Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Quan trọng nhất là tôn trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào Cao Lan.

6.1. Nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo tồn tri thức địa phương

Tri thức địa phương là tài sản vô giá của cộng đồng, cần được bảo tồn và phát huy. Việc bảo tồn tri thức địa phương không chỉ là bảo tồn di sản văn hóa mà còn là bảo tồn nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững.

6.2. Kêu gọi sự chung tay của cộng đồng để bảo tồn văn hóa Cao Lan

Việc bảo tồn văn hóa Cao Lan cần có sự chung tay góp sức của tất cả các thành viên trong cộng đồng. Mỗi người cần ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc.

24/04/2025
Nghiên cứu khai thác tri thức địa phương của một số dân tộc thiểu số gắn với bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể phục vụ phát triển du lịch bền vững tỉnh tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ CAO LAN Ở TỈNH TUYÊN QUANG 1. Địa bàn cư trú Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Đông Bắc, tổng diện tích tự nhiên 5. Dân số trên 80 vạn người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 56% dân số toàn tỉnh.

Mỗi dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa truyền thống riêng, được lưu truyền qua bao thế hệ thể hiện qua trang phục, tiếng nói, phong tục tập quán (tang ma, cưới xin, vào nhà mới.), cách ứng xử trong gia đình, cộng đồng, làng bản; tri thức dân gian đặc biệt là các loại hình nghệ thuật, dân ca, dân vũ độc đáo nổi bật, như: Hát Then của dân tộc Tày; hát sình Ca, dân tộc Cao Lan; hát Soọng Cô, dân tộc Sán Dìu; hát Páo Dung, dân tộc Dao; Hát Cỏ lảu (lảy cỏ), hát giao duyên, hát Sli, hát Soong hao, Hát Sli Giang của dân tộc Nùng. Theo tài liệu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của Bảo tàng tỉnh (kết quả kiểm kê 16/26 dân tộc, gồm: Dân tộc Kinh, Tày, Dao, Mông, Sán Chay, Nùng, Sán Dìu, La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao, Ngái, Mường, Giáy, Pu Péo, Hoa, nhóm người Thủy) cho thấy, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung bị mai một hoặc biến đổi nhanh chóng. dân tộc Cao Lan thống kê 42 di sản, trong đó 18 di sản đang bị mai một. Từ năm 2013 đến nay đã có 10 di sản của tỉnh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia trong đó có hát Sình ca (dân tộc Cao Lan) [10].

Trong Danh mục thành phần dân tộc ở nước ta, Cao Lan và Sán Chí được coi là một dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, với tên gọi Sán Chay (hoặc Cao Lan - Sán Chí). Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, câu hỏi Cao Lan và Sán Chí là một hay là hai dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề khoa học cần quan tâm nghiên cứu, giải quyết một cách thoả đáng. Trong đó, đáng chú ý là ý kiến của một số nhà nghiên cứu ở Viện Dân tộc học cho rằng, việc xếp Cao Lan và Sán Chí thành hai dân tộc riêng thuộc hai nhóm ngôn ngữ khác nhau có lẽ chỉ còn là vấn đề thời gian [4, tr. Người Cao Lan cư trú rải rác ở các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Giang, Yên Bái, Phú Thọ và Vĩnh Phúc.

Nhìn chung, địa bàn phân bố của người Cao Lan có thể chia thành 2 nhóm: Một nhóm ở khu vực trung lưu của sông Lô bao gồm một vùng khá rộng của tỉnh Tuyên Quang, một phần của tỉnh Yên Bái và tỉnh Phú Thọ. Nhóm thứ hai cư trú tập trung ở phần thượng lưu của sông Lục Nam, chủ yếu thuộc địa phận của tỉnh Bắc Giang. Do cư trú ở địa bàn có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, người Cao Lan đã có nhiều kinh nghiệm khai thác các nguồn lợi tự nhiên để đảm bảo cho cuộc sống của mình. Các làng của người Cao Lan cư trú khá mật tập, men theo chiều dài của các con sông như sông Lô, sông Lục Nam, sông Chảy… Bên cạnh canh tác ruộng nước là chủ yếu, đồng bào còn khai thác các nguồn lợi tự nhiên như săn bắt, hái lượm, tìm kiếm các vật liệu xây dựng nhà cửa, chế tác các loại công cụ cho sinh hoạt và sản xuất.

Qua 2 đợt Tổng điều tra Dân số trong toàn quốc gần nhất là 2009 và 2019, người Cao Lan vẫn cư trú tương đối ổn định tại Tuyên Quang với tổng số 70.636 người, ngoài ra còn sinh sống tại các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Yên Bái. Chỉ có một số rất ít di chuyển vào các tỉnh Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ [17]. Tại tỉnh Tuyên Quang, người Cao Lan cư trú tập trung tại 2 huyện Sơn Dương và Yên Sơn. Ở huyện Sơn Dương, người Cao Lan chiếm khoảng 30% dân số toàn huyện, cư trú rải rác ở nhiều xã, trong đó tập trung tại các xã: Văn Phú, Vân Sơn, Đông Lợi, Đồng Quý, Đông Thọ, Cấp Tiến, Bình Yên, Vĩnh Lợi, Chi Thiết, Quyết Thắng, Phú Lương và Đại Phú.

Ở huyện Yên Sơn, người Cao Lan cư trú tập trung ở các xã Kim Phú, Đội Bình, Chân Sơn, Tiến Bộ, Phú Lâm Nhữ Hán, Nhữ Khê. Tại thành phố Tuyên Quang, người Cao Lan cư trú tại các xã: Lưỡng Vượng, Đội Cấn [17]. Địa bàn cư trú của người Cao Lan chủ yếu là vùng đồi núi thấp, địa hình tương đối bằng phẳng, đồi gò thấp, đất tốt vì không chịu ảnh hưởng của nạn xói mòn như những vùng đồi núi dốc. Ruộng nước ở đây nhiều, có cả một cánh đồng rộng với diện tích hàng trăm ha.

Hàng năm, cánh đồng lúa của người Cao Lan được nước của các con sông như sông Lô tràn vào đem theo nhiều phù sa màu mỡ. Đây cũng là nơi giao lưu thuận tiện vì có Quốc lộ chạy qua. Có đường liên tỉnh Phú Thọ - Tuyên Quang - Yên Bái, Bắc Ninh - Bắc Giang - Quảng Ninh,. Phần lớn địa bàn cư trú của người Cao Lan rất gần với các thị trấn, thị tứ và trung tâm kinh tế - văn hoá - hành chính của tỉnh lỵ và huyện lỵ.

Mặc dù sống khá gần với các trung tâm thành phố, thị trấn, thị tứ nhưng đời sống sinh hoạt và văn hoá của người Cao Lan ít bị ảnh hưởng của lối sống đô thị mà vẫn giữ được hầu hết phong tục, tập quán, bản sắc riêng của mình. Các làng bản của người Cao Lan vẫn mang một dáng vẻ của một làng Cao Lan, êm ả với những mối quan hệ truyền thống lâu đời như: nếp ăn, ở, lối canh tác, ứng xử, quan hệ dòng tộc, lễ hội rất riêng của người Cao Lan [19]. Theo các cụ già người Cao Lan ở huyện Yên Sơn, trước đây người Cao Lan cũng cư trú thành từng cụm theo dòng họ, nhưng hiện nay với dân số tăng rất nhanh, đặc biệt từ sau năm 1986, do nhu cầu phát triển kinh tế, hộ gia đình lớn đã tách thành các hộ nhỏ nên hầu hết các thôn bản ở Yên Sơn đã thay đổi, người Cao Lan đều cư trú xen kẽ giữa các dòng họ, có những bản dân số lên tới hơn ngàn người. Sự bố trí các ngôi nhà trong bản thường dựa vào các hướng núi và hướng về nguồn nước như sông, hồ, khe suối [10].

Hoạt động kinh tế Căn cứ vào gia phả của tổ tiên để lại thì trước đây người Cao Lan có đất đai, có ruộng để cày cấy, trồng lúa. Nghề trồng lúa đã có truyền thống và kỹ thuật canh tác đạt tới trình độ cao. Chính vì thế khi di cư đến Việt Nam, họ vẫn duy trì được cách thức canh tác tiên tiến ấy. Quan sát nơi ở của người Cao Lan có thể thấy: họ thường chọn những khu đất có ruộng, có nguồn nước như: sông, suối để định cư.

Đây là những nơi đất tốt, thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Giống lúa bà con hay trồng trước đây là loại “mục tiền”, đây là loại lúa tẻ chịu được hạn và chống được sâu bệnh, gạo của loại lúa này nấu cơm ăn bùi và chắc bụng. Đặc biệt người Cao Lan hay trồng lúa Lào (Hu Lao), năng suất loại lúa này thấp nhưng dùng vào việc nấu rượu lại rất thơm ngon. Lúa được cấy vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 9, tháng 10 âm lịch.

Cách thức thu hoạch và cất giữ đơn giản: bó thành từng bó rồi phơi khô, sau đó cất vào một góc nhà hoặc gác lên các xà ngang giáp mái nhà, lúc ăn mới đem đập và xay, giã. Ngoài những loại lúa trên, người Cao Lan còn trồng lúa dé, lúa mạch. Loại nếp cẩm cũng được trồng để nấu cơm cúng hoặc làm rượu nếp ăn ngọt và bổ cho phụ nữ mới sinh [5]. Trước đây, người Cao Lan còn trồng lúa nương, có hai loại: lúa nương sớm và lúa nương muộn.

Lúa nương sớm là loại ngắn ngày gieo vào khoảng cuối tháng 3 - đầu tháng 4 âm lịch, thu hoạch vào tháng 9 âm lịch. Lúa nương muộn thì gieo vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 10 âm lịch. Lúa nương muộn được thu hoạch phơi thành từng bó ngay ngoài nương. Đồng bào làm những cái chòi có các tầng dàn cách nhau từ 50 đến 60 cm để gác lúa.

Lúa được bó lại gọi là cum , các cum thóc phơi ngửa khi nào thật khô mới gánh về gác lên xà nhà hoặc để trên dàn bếp. Ngoài việc trồng lúa, người Cao Lan còn trồng ngô. Ngô nương gọi là mếch nùi, là một loại ngô nếp cũng trồng vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 9 âm lịch cùng với thời điểm gieo lúa nương muộn. Ngô được thu hoạch cả bắp, phơi khô ngoài chòi rồi đem về quây lại ở góc nhà để dùng dần, đây là thức ăn chủ yếu của các loại gia súc.

Cùng với ngô, lúa ở trên nương, đồng bào còn trồng sắn, khoai, củ bở hoặc các loại bí, đậu. Bí nương và khoai sọ là 2 thứ ăn rất ngon, thơm dẻo và có độ ngọt, bùi rất riêng. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, người Cao Lan sử dụng các công cụ sản xuất rất đa dạng như: cày, bừa, cào, cuốc bàn, dao quắm và hái… Công cụ làm nương rẫy của họ chủ yếu là cây rìu và con dao. Khi đi làm nương người Cao Lan mang theo túi có quai đeo và sọt nhỏ để đựng đồ ăn và những thứ cần thiết khác.

Công cụ gặt lúa nương là chiếc hái – mạc thẹp. Đối với ruộng cạn hoặc bãi đất ven sông, khi làm người Cao Lan thường dùng các nông cụ như: cào, cuốc, các loại trục gỗ để đập đất, cày, bừa dùng trâu, bò kéo [19]. Dụng cụ săn bắt chủ yếu của người Cao Lan là chiếc nỏ và sau này là súng kíp. Để nấu đồ ăn, nước uống hàng ngày họ dùng nồi niêu, ấm đất.

Một số gia đình khá giả sử dụng mâm đồng và nồi đồng thay cho nồi đất và mâm gỗ. Dụng cụ lấy nước cổ xưa của người Cao Lan là bầu khô và ống bương. Nghề thủ công của người Cao Lan chưa phát triển, chỉ là đan lát các vật dụng trong gia đình như: rổ, rá, nong, nia,. Cả xã Kim Phú chỉ có vài người biết rèn cuốc, cào,.

Các sản phẩm nói chung mang tính tự cung tự cấp, ít có trao đổi mua bán nên kinh tế chợ cũng nghèo nàn. Đồng bào đem bán những nông sản là lúa, ngô, khoai, sắn hoặc chút ít lâm thổ sản., còn mua về những đồ thiết yếu hàng ngày như: muối, vải, cuốc, xẻng hay kim chỉ.Trước đây, khi rừng còn nhiều, chim thú lắm, người Cao Lan cũng đi săn bắt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt tài liệu "Tri Thức Địa Phương Người Cao Lan: Bảo tồn Di Sản & Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tuyên Quang"

Tài liệu này đi sâu vào kho tàng tri thức bản địa độc đáo của người Cao Lan ở Tuyên Quang, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn những di sản văn hóa này. Nó phân tích cách thức ứng dụng những kiến thức truyền thống này trong việc phát triển du lịch bền vững, mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng đồng thời bảo vệ môi trường và bản sắc văn hóa. Tài liệu cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống và các phương pháp canh tác bền vững của người Cao Lan. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về giá trị của tri thức địa phương trong bối cảnh phát triển hiện đại.

Nếu bạn quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu về Bảo tồn và phát huy giá trị trò chơi pháo đất ở làng tiền hải tân liên vĩnh bảo hải phòng để tìm hiểu thêm về các phương pháp và kinh nghiệm bảo tồn di sản văn hóa tại các địa phương khác. Việc tìm hiểu các trường hợp thực tế sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.