CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ CAO LAN Ở TỈNH TUYÊN QUANG 1. Địa bàn cư trú Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Đông Bắc, tổng diện tích tự nhiên 5. Dân số trên 80 vạn người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 56% dân số toàn tỉnh.
Mỗi dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa truyền thống riêng, được lưu truyền qua bao thế hệ thể hiện qua trang phục, tiếng nói, phong tục tập quán (tang ma, cưới xin, vào nhà mới.), cách ứng xử trong gia đình, cộng đồng, làng bản; tri thức dân gian đặc biệt là các loại hình nghệ thuật, dân ca, dân vũ độc đáo nổi bật, như: Hát Then của dân tộc Tày; hát sình Ca, dân tộc Cao Lan; hát Soọng Cô, dân tộc Sán Dìu; hát Páo Dung, dân tộc Dao; Hát Cỏ lảu (lảy cỏ), hát giao duyên, hát Sli, hát Soong hao, Hát Sli Giang của dân tộc Nùng. Theo tài liệu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của Bảo tàng tỉnh (kết quả kiểm kê 16/26 dân tộc, gồm: Dân tộc Kinh, Tày, Dao, Mông, Sán Chay, Nùng, Sán Dìu, La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao, Ngái, Mường, Giáy, Pu Péo, Hoa, nhóm người Thủy) cho thấy, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung bị mai một hoặc biến đổi nhanh chóng. dân tộc Cao Lan thống kê 42 di sản, trong đó 18 di sản đang bị mai một. Từ năm 2013 đến nay đã có 10 di sản của tỉnh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia trong đó có hát Sình ca (dân tộc Cao Lan) [10].
Trong Danh mục thành phần dân tộc ở nước ta, Cao Lan và Sán Chí được coi là một dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, với tên gọi Sán Chay (hoặc Cao Lan - Sán Chí). Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, câu hỏi Cao Lan và Sán Chí là một hay là hai dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề khoa học cần quan tâm nghiên cứu, giải quyết một cách thoả đáng. Trong đó, đáng chú ý là ý kiến của một số nhà nghiên cứu ở Viện Dân tộc học cho rằng, việc xếp Cao Lan và Sán Chí thành hai dân tộc riêng thuộc hai nhóm ngôn ngữ khác nhau có lẽ chỉ còn là vấn đề thời gian [4, tr. Người Cao Lan cư trú rải rác ở các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Giang, Yên Bái, Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
Nhìn chung, địa bàn phân bố của người Cao Lan có thể chia thành 2 nhóm: Một nhóm ở khu vực trung lưu của sông Lô bao gồm một vùng khá rộng của tỉnh Tuyên Quang, một phần của tỉnh Yên Bái và tỉnh Phú Thọ. Nhóm thứ hai cư trú tập trung ở phần thượng lưu của sông Lục Nam, chủ yếu thuộc địa phận của tỉnh Bắc Giang. Do cư trú ở địa bàn có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, người Cao Lan đã có nhiều kinh nghiệm khai thác các nguồn lợi tự nhiên để đảm bảo cho cuộc sống của mình. Các làng của người Cao Lan cư trú khá mật tập, men theo chiều dài của các con sông như sông Lô, sông Lục Nam, sông Chảy… Bên cạnh canh tác ruộng nước là chủ yếu, đồng bào còn khai thác các nguồn lợi tự nhiên như săn bắt, hái lượm, tìm kiếm các vật liệu xây dựng nhà cửa, chế tác các loại công cụ cho sinh hoạt và sản xuất.
Qua 2 đợt Tổng điều tra Dân số trong toàn quốc gần nhất là 2009 và 2019, người Cao Lan vẫn cư trú tương đối ổn định tại Tuyên Quang với tổng số 70.636 người, ngoài ra còn sinh sống tại các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Yên Bái. Chỉ có một số rất ít di chuyển vào các tỉnh Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ [17]. Tại tỉnh Tuyên Quang, người Cao Lan cư trú tập trung tại 2 huyện Sơn Dương và Yên Sơn. Ở huyện Sơn Dương, người Cao Lan chiếm khoảng 30% dân số toàn huyện, cư trú rải rác ở nhiều xã, trong đó tập trung tại các xã: Văn Phú, Vân Sơn, Đông Lợi, Đồng Quý, Đông Thọ, Cấp Tiến, Bình Yên, Vĩnh Lợi, Chi Thiết, Quyết Thắng, Phú Lương và Đại Phú.
Ở huyện Yên Sơn, người Cao Lan cư trú tập trung ở các xã Kim Phú, Đội Bình, Chân Sơn, Tiến Bộ, Phú Lâm Nhữ Hán, Nhữ Khê. Tại thành phố Tuyên Quang, người Cao Lan cư trú tại các xã: Lưỡng Vượng, Đội Cấn [17]. Địa bàn cư trú của người Cao Lan chủ yếu là vùng đồi núi thấp, địa hình tương đối bằng phẳng, đồi gò thấp, đất tốt vì không chịu ảnh hưởng của nạn xói mòn như những vùng đồi núi dốc. Ruộng nước ở đây nhiều, có cả một cánh đồng rộng với diện tích hàng trăm ha.
Hàng năm, cánh đồng lúa của người Cao Lan được nước của các con sông như sông Lô tràn vào đem theo nhiều phù sa màu mỡ. Đây cũng là nơi giao lưu thuận tiện vì có Quốc lộ chạy qua. Có đường liên tỉnh Phú Thọ - Tuyên Quang - Yên Bái, Bắc Ninh - Bắc Giang - Quảng Ninh,. Phần lớn địa bàn cư trú của người Cao Lan rất gần với các thị trấn, thị tứ và trung tâm kinh tế - văn hoá - hành chính của tỉnh lỵ và huyện lỵ.
Mặc dù sống khá gần với các trung tâm thành phố, thị trấn, thị tứ nhưng đời sống sinh hoạt và văn hoá của người Cao Lan ít bị ảnh hưởng của lối sống đô thị mà vẫn giữ được hầu hết phong tục, tập quán, bản sắc riêng của mình. Các làng bản của người Cao Lan vẫn mang một dáng vẻ của một làng Cao Lan, êm ả với những mối quan hệ truyền thống lâu đời như: nếp ăn, ở, lối canh tác, ứng xử, quan hệ dòng tộc, lễ hội rất riêng của người Cao Lan [19]. Theo các cụ già người Cao Lan ở huyện Yên Sơn, trước đây người Cao Lan cũng cư trú thành từng cụm theo dòng họ, nhưng hiện nay với dân số tăng rất nhanh, đặc biệt từ sau năm 1986, do nhu cầu phát triển kinh tế, hộ gia đình lớn đã tách thành các hộ nhỏ nên hầu hết các thôn bản ở Yên Sơn đã thay đổi, người Cao Lan đều cư trú xen kẽ giữa các dòng họ, có những bản dân số lên tới hơn ngàn người. Sự bố trí các ngôi nhà trong bản thường dựa vào các hướng núi và hướng về nguồn nước như sông, hồ, khe suối [10].
Hoạt động kinh tế Căn cứ vào gia phả của tổ tiên để lại thì trước đây người Cao Lan có đất đai, có ruộng để cày cấy, trồng lúa. Nghề trồng lúa đã có truyền thống và kỹ thuật canh tác đạt tới trình độ cao. Chính vì thế khi di cư đến Việt Nam, họ vẫn duy trì được cách thức canh tác tiên tiến ấy. Quan sát nơi ở của người Cao Lan có thể thấy: họ thường chọn những khu đất có ruộng, có nguồn nước như: sông, suối để định cư.
Đây là những nơi đất tốt, thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Giống lúa bà con hay trồng trước đây là loại “mục tiền”, đây là loại lúa tẻ chịu được hạn và chống được sâu bệnh, gạo của loại lúa này nấu cơm ăn bùi và chắc bụng. Đặc biệt người Cao Lan hay trồng lúa Lào (Hu Lao), năng suất loại lúa này thấp nhưng dùng vào việc nấu rượu lại rất thơm ngon. Lúa được cấy vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 9, tháng 10 âm lịch.
Cách thức thu hoạch và cất giữ đơn giản: bó thành từng bó rồi phơi khô, sau đó cất vào một góc nhà hoặc gác lên các xà ngang giáp mái nhà, lúc ăn mới đem đập và xay, giã. Ngoài những loại lúa trên, người Cao Lan còn trồng lúa dé, lúa mạch. Loại nếp cẩm cũng được trồng để nấu cơm cúng hoặc làm rượu nếp ăn ngọt và bổ cho phụ nữ mới sinh [5]. Trước đây, người Cao Lan còn trồng lúa nương, có hai loại: lúa nương sớm và lúa nương muộn.
Lúa nương sớm là loại ngắn ngày gieo vào khoảng cuối tháng 3 - đầu tháng 4 âm lịch, thu hoạch vào tháng 9 âm lịch. Lúa nương muộn thì gieo vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 10 âm lịch. Lúa nương muộn được thu hoạch phơi thành từng bó ngay ngoài nương. Đồng bào làm những cái chòi có các tầng dàn cách nhau từ 50 đến 60 cm để gác lúa.
Lúa được bó lại gọi là cum , các cum thóc phơi ngửa khi nào thật khô mới gánh về gác lên xà nhà hoặc để trên dàn bếp. Ngoài việc trồng lúa, người Cao Lan còn trồng ngô. Ngô nương gọi là mếch nùi, là một loại ngô nếp cũng trồng vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 9 âm lịch cùng với thời điểm gieo lúa nương muộn. Ngô được thu hoạch cả bắp, phơi khô ngoài chòi rồi đem về quây lại ở góc nhà để dùng dần, đây là thức ăn chủ yếu của các loại gia súc.
Cùng với ngô, lúa ở trên nương, đồng bào còn trồng sắn, khoai, củ bở hoặc các loại bí, đậu. Bí nương và khoai sọ là 2 thứ ăn rất ngon, thơm dẻo và có độ ngọt, bùi rất riêng. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, người Cao Lan sử dụng các công cụ sản xuất rất đa dạng như: cày, bừa, cào, cuốc bàn, dao quắm và hái… Công cụ làm nương rẫy của họ chủ yếu là cây rìu và con dao. Khi đi làm nương người Cao Lan mang theo túi có quai đeo và sọt nhỏ để đựng đồ ăn và những thứ cần thiết khác.
Công cụ gặt lúa nương là chiếc hái – mạc thẹp. Đối với ruộng cạn hoặc bãi đất ven sông, khi làm người Cao Lan thường dùng các nông cụ như: cào, cuốc, các loại trục gỗ để đập đất, cày, bừa dùng trâu, bò kéo [19]. Dụng cụ săn bắt chủ yếu của người Cao Lan là chiếc nỏ và sau này là súng kíp. Để nấu đồ ăn, nước uống hàng ngày họ dùng nồi niêu, ấm đất.
Một số gia đình khá giả sử dụng mâm đồng và nồi đồng thay cho nồi đất và mâm gỗ. Dụng cụ lấy nước cổ xưa của người Cao Lan là bầu khô và ống bương. Nghề thủ công của người Cao Lan chưa phát triển, chỉ là đan lát các vật dụng trong gia đình như: rổ, rá, nong, nia,. Cả xã Kim Phú chỉ có vài người biết rèn cuốc, cào,.
Các sản phẩm nói chung mang tính tự cung tự cấp, ít có trao đổi mua bán nên kinh tế chợ cũng nghèo nàn. Đồng bào đem bán những nông sản là lúa, ngô, khoai, sắn hoặc chút ít lâm thổ sản., còn mua về những đồ thiết yếu hàng ngày như: muối, vải, cuốc, xẻng hay kim chỉ.Trước đây, khi rừng còn nhiều, chim thú lắm, người Cao Lan cũng đi săn bắt.