Tổng quan nghiên cứu

Bắc Kạn là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng người Tày cổ tại vùng Đông Bắc Bộ, với diện tích tự nhiên 4.859 km² và dân số trên 312.000 người phân bổ tại 8 đơn vị hành chính cấp huyện. Trong cơ cấu dân cư địa phương, dân tộc Tày chiếm tỷ lệ đa số với hơn 54% tổng dân số toàn tỉnh. Trải qua tiến trình lịch sử hàng nghìn năm, người Tày nơi đây đã đúc kết và sáng tạo nên một kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc, kết tinh đậm nét qua hệ thống thành ngữ và tục ngữ. Tuy nhiên, trước tác động mạnh mẽ của quá trình hiện đại hóa và giao lưu văn hóa, nhiều giá trị văn hóa truyền thống phi vật thể đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Khảo sát thực tế trên 35 học sinh tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Bắc Kạn cho thấy có tới 33% học sinh hoàn toàn không biết hoặc chưa từng sử dụng tục ngữ Tày trong sinh hoạt, trong khi 77% số lượng học sinh còn lại chỉ biết từ 1 đến 3 câu ở mức độ rất hạn chế.

Đứng trước thực trạng đó, công trình nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Tuyến tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên tập trung giải quyết vấn đề nhận diện, hệ thống hóa và làm sáng tỏ các đặc trưng ngôn ngữ, tri thức bản địa cùng văn hóa ứng xử của người Tày Bắc Kạn thông qua kho tàng thành ngữ, tục ngữ. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn diện trên địa bàn 8 huyện, thành phố thuộc tỉnh, khảo sát tổng thể 400 đơn vị ngữ liệu và tuyển chọn 298 câu liên quan trực tiếp đến đời sống sản xuất và quan hệ xã hội. Công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu ngôn ngữ học dân tộc học tại địa phương, đồng thời cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số trong giai đoạn phát triển mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa học và thi pháp học dân gian, nhấn mạnh vai trò cốt lõi của môi trường diễn xướng trong việc định hình ý nghĩa tác phẩm. Đồng thời, công trình vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học cấu trúc - ngữ nghĩa nhằm thiết lập hệ thống tiêu chí phân định rõ ràng giữa hai thể loại thành ngữ và tục ngữ dựa trên các nghiên cứu của Hoàng Phê, Vũ Ngọc Phan, Mai Ngọc Chừ và Hà Huyền Nga.

Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:

  • Thành ngữ: Cụm từ cố định có cấu trúc ngữ pháp tương đương một từ, mang tính biểu trưng cao, thực hiện chức năng định danh thuộc phạm trù ngôn ngữ và có chức năng thẩm mỹ.
  • Tục ngữ: Câu nói hoàn chỉnh diễn đạt một phán đoán logic, thực hiện chức năng thông báo, mang tính quy luật và chứa đựng đầy đủ 3 chức năng văn học cơ bản gồm nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ.
  • Tri thức bản địa: Hệ thống hiểu biết, kinh nghiệm thực hành được tích lũy qua nhiều thế hệ gắn liền với điều kiện sinh thái vùng núi cao.
  • Môi trường diễn xướng: Không gian sinh thái - văn hóa tự nhiên và xã hội, nơi thành ngữ và tục ngữ được sản sinh, trao truyền và thực hành chức năng giao tiếp.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả tiến hành thu thập và xử lý nguồn dữ liệu điền dã thực tế kết hợp khai thác các bộ tư liệu chuẩn mực như cuốn Từ điển Tày - Nùng - Việt, Từ điển thành ngữ - tục ngữ dân tộc Tày và dự án Từ điển điện tử song ngữ Tày - Việt với quy mô hơn 7.000 từ vựng. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định gồm 400 câu thành ngữ, tục ngữ phổ biến tại địa phương, trong đó tác giả chọn mẫu có chủ đích 298 câu phản ánh đậm nét tri thức tự nhiên và xã hội để tiến hành phân tích ngữ nghĩa, đồng thời trích dẫn đối sánh chuyên sâu 160 câu tiêu biểu trong văn bản luận văn.

Các phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Định lượng tần suất xuất hiện của các chủ đề thời tiết, nông nghiệp, động vật, thực vật và quan hệ ứng xử xã hội nhằm xác định cấu trúc bức tranh ngôn ngữ tộc người.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đặt thành ngữ, tục ngữ Tày Bắc Kạn trong thế đối sánh với tục ngữ người Kinh và các nhóm địa phương Tày - Nùng khác để chỉ ra nét tương đồng mang tính quy luật và nét dị biệt do địa hình chi phối.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa kết hợp liên ngành: Giải mã các tầng nghĩa biểu trưng, nghĩa bóng dựa trên bối cảnh phong tục tập quán, lễ cấp sắc Then, chữ Nôm Tày và đời sống canh tác lúa nước tại các thung lũng karst.

Lý do lựa chọn hệ phương pháp này xuất phát từ tính chất liên ngành của đối tượng, giúp lượng hóa chính xác các chỉ số ngôn ngữ và đảm bảo tính khách quan trong việc làm sáng tỏ giá trị nhân học văn hóa. Toàn bộ quy trình thu thập, phân loại và hoàn thiện văn bản nghiên cứu được thực hiện đồng bộ và nghiệm thu chính thức vào năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích 400 câu thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày tại Bắc Kạn đã mang lại những phát hiện quan trọng về tư duy tri nhận và đời sống của cư dân bản địa:

  • Hệ thống tri thức dự báo thời tiết phong phú: Nhóm ngữ liệu về thời tiết chiếm tỷ lệ 18% với 72 câu trên tổng số 400 câu sưu tầm. Tri thức này phản ánh khả năng quan sát thiên văn và tự nhiên tinh tế của người Tày qua 3 nhóm chỉ báo: thiên tượng (mặt trời đỏ, sao dày hay vắng), khí tượng (hình dáng và hướng dịch chuyển của mây) và vật tượng (tổ kiến, tiếng ếch nhái, sự biến đổi của lá cây gạo, quả mác mật). Điển hình là câu tục ngữ chỉ hướng mây phù hợp địa hình núi cánh cung: "Phạ kẻo mừa hác, Khẩu thác chàn; Phạ kẻo mừa keo, Khẩu tèo khửn các" (Mây kéo về Bắc đổ thóc ra phơi, mây kéo về Nam thu thóc lên gác).

  • Kinh nghiệm canh tác nông nghiệp mang tính quy chuẩn: Tục ngữ Tày xác lập một lịch nông vụ chính xác đến từng tiết khí và tháng trong năm, như "Bươn sam lồng chả, Bươn hả đăm nà" (Tháng ba gieo mạ, tháng năm cấy ruộng) hay "Phước bấu quá xinh minh, khinh bấu quá cốc vụ" (Khoai sọ trồng không qua tiết Thanh minh, gừng không qua tiết Cốc vũ). Điều này gắn liền với việc phục tráng và phát triển các giống lúa đặc sản bản địa như lúa Bao Thai Chợ Đồn, lúa nếp Khẩu nua Lếch Ngân Sơn.

  • Tần suất xuất hiện vượt trội của biểu trưng loài chó: Trong nhóm 57 câu thành ngữ, tục ngữ tiêu biểu về thế giới động vật, hình tượng loài chó chiếm tỷ lệ áp đảo với 32 câu (đạt 56,1%), cao gấp gần 3 lần so với loài ngựa gồm 11 câu (chiếm 19,2%), loài gà với 8 câu (chiếm 14,0%) và các loài khác gồm 6 câu (chiếm 10,5%). Hình tượng con chó không chỉ xuất hiện trong quan hệ gắn bó gia đình, đặt tên thân mật cho con trẻ ("ò ma") mà còn là thước đo chu kỳ sinh học tương ứng với mùa vụ nông nghiệp ("Mu ngà, ma thúa" - Lợn mang thai tính theo mùa vừng, chó mang thai tính theo mùa lạc).

Thảo luận kết quả

Trong công trình nghiên cứu, dữ liệu khảo sát được trực quan hóa thông qua bảng thống kê tần suất động vật với 4 nhóm phân loại và bảng phân loại các chiều kích ứng xử xã hội của người Tày. Cách trình bày này giúp làm nổi bật mối tương quan giữa tần suất ngôn ngữ và đời sống kinh tế tự cung tự cấp vùng núi cao Đông Bắc.

Khi so sánh với hệ thống tục ngữ của người Kinh, nghiên cứu chỉ ra sự tương đồng sâu sắc trong tư duy nhận thức quy luật tự nhiên, như việc xem sao đoán thời tiết ("Lai đao le đét" tương đương "Sao dày thì mưa, sao thưa thì nắng") hay quan sát hoạt động của loài kiến. Tuy nhiên, sự khác biệt địa hình đã tạo nên những quy luật riêng biệt; trong khi tục ngữ người Kinh quan sát "Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút", thì người Tày Bắc Kạn quan sát hướng di chuyển của mây qua các dãy núi cánh cung Ngân Sơn và sông Gâm để phán đoán chính xác lượng mưa thung lũng.

Về mặt xã hội học, thành ngữ và tục ngữ Tày phản ánh cấu trúc gia đình phụ quyền nhưng giàu tính cố kết cộng đồng, chuẩn mực ứng xử theo chi nhánh trong phạm vi 3 đời, cũng như tinh thần lao động kiên trì ("Mặt khẩu cẩu mặt hứa" - Một hạt thóc chín giọt mồ hôi). Các giá trị này được bảo lưu bền vững thông qua môi trường thực hành tín ngưỡng Then, Pụt và sinh hoạt bản làng truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực trạng mai một ngôn ngữ dân tộc thiểu số, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Số hóa di sản ngôn ngữ và thành ngữ tục ngữ Tày: Triển khai số hóa 100% kho tàng 400 câu thành ngữ, tục ngữ Tày đã sưu tầm thành cơ sở dữ liệu âm thanh và văn bản song ngữ Tày - Việt, tích hợp vào cổng thông tin điện tử di sản tỉnh Bắc Kạn. Đề xuất hoàn thành trong giai đoạn 2024–2026 dưới sự chủ trì của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh.

  2. Tích hợp giảng dạy vào chương trình giáo dục địa phương: Biên soạn tài liệu bổ trợ tích hợp 50 đến 70 câu thành ngữ, tục ngữ tiêu biểu vào môn Ngữ văn và Giáo dục địa phương tại 100% các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú và Bán trú trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh am hiểu tục ngữ Tày từ mức 23% hiện tại lên trên 85% trong vòng 2 năm học, do Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh thực hiện.

  3. Xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với không gian văn hóa bản địa: Đưa các câu tục ngữ về ứng xử, ẩm thực và nếp nhà sàn vào không gian diễn xướng Then - Pụt tại 12 điểm du lịch cộng đồng trọng điểm thuộc khu vực hồ Ba Bể (thôn Pác Ngòi) và huyện Na Rì trong giai đoạn 2025–2027, do Ủy ban nhân dân các huyện phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành triển khai.

  4. Tổ chức các lớp bồi dưỡng tiếng Tày và chữ Nôm Tày: Mở 10 đến 15 lớp tập huấn tiếng Tày chuẩn (lấy ngữ âm khu vực Ba Bể làm chuẩn) và chữ Nôm Tày cho hơn 500 cán bộ văn hóa cơ sở, giáo viên và thanh niên địa phương trước năm 2027, do Ban Dân tộc tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Ngôn ngữ học, Văn hóa học: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận văn bản văn học từ góc nhìn văn hóa, cùng hệ thống ngữ liệu 298 câu thành ngữ, tục ngữ được dịch nghĩa và chú giải học thuật chuẩn xác, phục vụ nghiên cứu so sánh ngôn ngữ - văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc.
  • Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn và Giáo dục địa phương tại tỉnh Bắc Kạn và các tỉnh miền núi phía Bắc: Cung cấp nguồn tài liệu thực chứng với 160 câu trích dẫn tiêu biểu, phục vụ thiết kế các bài giảng tích hợp di sản văn hóa phi vật thể, khơi gợi niềm tự hào dân tộc cho học sinh.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, công tác dân tộc tại các cơ quan ban ngành: Bản luận văn cung cấp hệ thống số liệu khảo sát thực tế (77% thanh thiếu niên chưa nắm rõ di sản) làm căn cứ khoa học để hoạch định các chính sách bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết và phong tục tập quán các dân tộc thiểu số cấp tỉnh.
  • Các chuyên gia, doanh nghiệp phát triển du lịch văn hóa cộng đồng (Homestay): Cung cấp hiểu biết sâu sắc về nếp sống nhà sàn, phong tục cưới hỏi, tang ma và tri thức ẩm thực của người Tày để xây dựng các sản phẩm du lịch di sản độc đáo tại vùng hồ Ba Bể.

Câu hỏi thường gặp

Thành ngữ và tục ngữ dân tộc Tày được phân biệt dựa trên những tiêu chí học thuật nào?
Nghiên cứu phân biệt dựa trên 4 tiêu chí: Cấu tạo ngữ pháp (thành ngữ là cụm từ cố định tương đương một từ; tục ngữ là câu hoàn chỉnh), chức năng văn học (thành ngữ mang tính thẩm mỹ; tục ngữ mang đủ chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ), hình thức tư duy (thành ngữ là khái niệm; tục ngữ là phán đoán) và chức năng ngôn ngữ (thành ngữ định danh như "Ả pác chập càng"; tục ngữ thông báo như "Bươn sam lồng chả, Bươn hả đăm nà").

Tại sao hình tượng loài chó lại chiếm tỷ lệ cao nhất (56,1%) trong tục ngữ về động vật của người Tày?
Trong đời sống miền núi, con chó là vật nuôi trung thành, giữ vai trò bảo vệ bản làng và đi săn. Người Tày gắn bó mật thiết với loài vật này đến mức dùng từ "ò ma" làm tên gọi thân mật cho con trai. Đồng thời, chu kỳ sinh học của chó được người Tày dùng làm mốc ước lệ thời gian nông nghiệp chính xác thông qua câu tục ngữ "Mu ngà, ma thúa".

Phương ngữ tiếng Tày nào tại Bắc Kạn được chọn làm chuẩn nghiên cứu và phát thanh?
Dựa trên kết quả đề tài khoa học cấp tỉnh và nghiên cứu ngôn ngữ học vùng tam giác Ba Bể - Hòa An - Đông Khê, tiếng Tày tại huyện Ba Bể cùng vùng phụ cận thuộc huyện Bạch Thông và Chợ Đồn được xác định là phương ngữ chuẩn của tỉnh Bắc Kạn, được Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh sử dụng phát sóng chính thức.

Tri thức dự báo thời tiết trong tục ngữ Tày có giá trị khoa học thực tiễn như thế nào?
Với 72 câu tục ngữ chiếm 18% tổng dung lượng, kho tàng này đúc kết chính xác các quy luật khí tượng thủy văn miền núi. Điển hình như câu "Bẩu ngịu cặn lịn ma, bấu au phà khảu xẩu" (Lá gạo bằng lưỡi chó thì không để chăn vào gần) phản ánh chính xác chu kỳ sinh trưởng của thực vật tương ứng với sự gia tăng nhiệt độ không khí đầu mùa hè.

Thực trạng sử dụng thành ngữ, tục ngữ Tày trong giới trẻ Bắc Kạn hiện nay đáng báo động ra sao?
Số liệu điều tra thực tế trên 35 học sinh trung học phổ thông nội trú cho thấy có tới 33% học sinh hoàn toàn không biết và chưa từng sử dụng tục ngữ Tày trong đời sống thường nhật; 77% học sinh còn lại chỉ biết từ 1 đến 3 câu đơn giản, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đưa di sản vào giảng dạy học đường.

Kết luận

  • Luận văn đã sưu tầm và hệ thống hóa toàn diện 400 câu thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày tại Bắc Kạn, chọn lọc 298 đơn vị nghiên cứu trọng tâm và phân tích chuyên sâu 160 câu tiêu biểu.
  • Làm sáng tỏ kho tàng tri thức tự nhiên phong phú với 18% ngữ liệu chuyên sâu về dự báo thời tiết và quy chuẩn lịch nông vụ canh tác lúa nước, hoa màu.
  • Giải mã thành công giá trị nhân học của 57 ngữ liệu biểu trưng động vật, chỉ rõ vị trí đặc biệt của hình tượng loài chó chiếm tỷ lệ 56,1% trong tư duy tộc người.
  • Xác lập cơ sở lý luận vững chắc trong việc phân định ranh giới ngôn ngữ học và văn hóa học giữa thành ngữ và tục ngữ dân tộc thiểu số.
  • Phản ánh trung thực thực trạng sử dụng ngôn ngữ của thế hệ trẻ qua khảo sát thực tế, cung cấp luận cứ cho các giải pháp bảo tồn văn hóa cấp tỉnh.

Đóng góp lớn nhất của công trình là khẳng định bản sắc độc đáo của cộng đồng người Tày Bắc Kạn qua lăng kính ngôn từ dân gian, mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học, ngôn ngữ và dân tộc học. Trong giai đoạn 2025–2030, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng đẩy mạnh lộ trình số hóa dữ liệu và đưa kho tàng tục ngữ Tày vào giảng dạy thực nghiệm. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể tiếp tục khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để làm giàu thêm tư liệu học thuật và chung tay gìn giữ vốn quý văn hóa dân tộc Việt Nam.