phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về QL CTTS lớp 1 ở trƣờng TH. - Chƣơng 2: Thực trạng QL CTTS lớp 1 ở trƣờng TH trên địa bàn TX Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. - Chƣơng 3: Biện pháp QL CTTS lớp 1 ở trƣờng TH trên địa bàn TX Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TUYỂN SINH LỚP 1 Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới mỗi quốc gia, mỗi nền giáo dục đều có phƣơng thức TS khác nhau. Mục tiêu của tuyển sinh là nhằm phát hiện, tuyển chọn những ngƣời có đủ tiêu chuẩn theo quy định đƣợc vào nhập học tại các trƣờng. Với phạm vi nghiên cứu có hạn, chúng tôi nhận thấy công tác tuyển sinh lớp 1 đối với nhiều quốc gia khác đƣợc thực hiện nhƣ sau: Tại Nhật Bản sau khi hoàn tất các lớp mầm non, phụ huynh sẽ đăng ký cho con vào bậc tiểu học và đƣợc phân tuyến về trƣờng gần nhà để đảm bảo trẻ đi học không quá xa.
Và một trong những yêu cầu bắt buộc đối với trẻ là phải tự đi học, bố mẹ không cần phải đƣa đón mỗi ngày. Tại Mỹ, khi các bé bƣớc vào giai đoạn chuẩn bị vào lớp 1, các bậc phụ huynh ở Mỹ phải trải qua quá trình chọn trƣờng để làm hồ sơ nhập học cho con. Tuy nhiên, các bé sẽ đƣợc kiểm tra đầu vào để đánh giá năng lực của trẻ. Sau khi có kết quả, giáo viên chủ nhiệm sẽ có buổi gặp riêng với bé và phụ huynh vào ngày đầu năm để đặt ra mục tiêu cho cả năm học dựa trên mong muốn, thực lực của bé và sự theo dõi của bố mẹ.
Tại Trung Quốc, một số trƣờng tiểu học tổ chức thi đầu vào, yêu cầu học sinh hoàn thành các câu hỏi toán học. Vì thế, các trẻ mẫu giáo thƣờng phải theo học trƣớc các chƣơng trình tiểu học trƣớc để đƣợc vào học các lớp đầu (Hoa Hạ, 2018). Từ đó cho thấy công tác TS lớp 1 ở các nƣớc thƣờng đƣợc tổ chức chặt chẽ, nhằm tuyển chọn những học sinh có năng lực phù hợp để theo học các lớp mà học sinh đủ tiêu chuẩn vào học. Bởi vì nguồn lực đầu vào, số lƣợng và chất lƣợng học sinh là quan trọng nhất.
Một trƣờng học có chất lƣợng là trƣờng tuyển đƣợc nhiều học sinh giỏi. Vì thế, tuyển sinh là khâu đầu tiên để nâng cao chất lƣợng của nhà trƣờng. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trong lịch sử phát triển của GD và ĐT, vai trò của TS là một khâu, một bƣớc vô cùng quan trọng. Dƣới chế độ phong kiến, thi cử nhằm tuyển chọn ngƣời hiền đảm nhận các chức vụ quản lý xã hội theo khuôn mẫu chế độ phong kiến mà Nho giáo đã quy định.
Mặc dù có những hạn chế nhƣng thi cử của giáo dục phong kiến Việt Nam thực sự đã là đòn bẩy thúc đẩy việc học tập nhằm đáp ứng yêu cầu tuyển lựa nhân tài của Nhà nƣớc với quan niệm “Muốn có nhân tài trƣớc hết phải chọn ngƣời có học, phép chọn ngƣời có học thì thi cử là đầu” (Phan Huy Chú, 2007, tr. Trong những năm gần đây, thực hiện quan điểm chuẩn hóa, hiện đại hóa trong giáo dục. Giáo dục tiểu học là điều kiện cơ bản nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nƣớc. Vì thế, nhà nƣớc thực hiện chính sách phổ cập tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến hết lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam.
Nhà nƣớc dành ngân sách thích đáng để phổ cập giáo dục tiểu học. Có chính sách động viên các nguồn tài chính khác trong xã hội, lập Quỹ giáo dục quốc gia, nhằm hỗ trợ kinh phí cho sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học. Trẻ em 6 tuổi phải đƣợc học lớp 1 ngay từ đầu năm học. Trẻ em có khả năng phát triển đặc biệt thì đƣợc học lớp 1 trƣớc 6 tuổi hoặc học vƣợt lớp khi cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền cho phép (Quốc hội, 1991).
QL CTTS là một nội dung quan trọng của ngành GDĐT đƣợc quy định trong các Văn kiện của Đảng, Điều lệ trƣờng trung học cơ sở, THPT và trƣờng Phổ thông có nhiều cấp học và trong nhiệm vụ trọng tâm năm học của Bộ GDĐT, Sở GDĐT về “Kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với tiểu học” thì tiêu chuẩn đánh giá trƣờng tiểu học mức 1 phải thực hiện nhiệm vụ phổ cập theo phân công; trong địa bàn tuyển sinh của trƣờng, tỷ lệ trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt ít nhất 90%; quản lý hồ sơ, số liệu phổ cập giáo dục tiểu học đúng quy định (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Bên cạnh đó, công tác tuyển sinh lớp 1 cũng đã thay đổi so với trƣớc đây, do cách đánh giá học sinh lớp 1 theo chƣơng trình GDPT mới đã đƣợc Bộ GDĐT 9 xây dựng mới. Với nội dung cốt lõi của hƣớng dẫn này là đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ của học sinh theo yêu cầu đạt về các phẩm chất, năng lực đƣợc quy định trong chƣơng trình tổng thể và chƣơng trình từng môn học lớp 1 thông qua quá trình học tập từng môn học; đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của học sinh đƣợc quy định trong chƣơng trình tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Ngoài ra, đề tài nghiên cứu cấp quốc gia “Đánh giá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” cũng đã đƣợc Bộ GDĐT chỉ đạo triển khai nhằm đƣa ra những công cụ hỗ trợ việc đánh giá học sinh đạt hiệu quả.
Tác giả Nguyễn Công Khanh chủ nhiệm đề tài và cộng sự đã “Xây dựng các khung chuẩn đánh giá năng lực, phẩm chất cho học sinh lớp 1, gồm các khung chuẩn chung và khung năng lực, phẩm chất đặc thù. Theo đó, mỗi phẩm chất, năng lực sẽ gồm một số tiêu chí và mỗi tiêu chí được cụ thể hoá thành một số chỉ báo; mỗi chỉ báo sẽ xác định bằng những biểu hiện hành vi đặc trưng, cốt lõi nhất. Dựa trên những khung phẩm chất, năng lực này, giáo viên sẽ có bảng tham chiếu, để biết từng học sinh mạnh gì - yếu gì, đã đạt được những yêu cầu nào của chương trình - cái nào dưới mức chuẩn; để từ đó hỗ trợ các em và điều chỉnh hoạt động dạy học” (Nguyễn Công Khanh, 2018). Qua đó cho thấy, nền giáo dục Việt Nam đã từng bƣớc thay đổi trong cách đánh giá học sinh theo những khung chuẩn phù hợp với từng học sinh.
Vì thế, công tác tuyển sinh lớp 1 cũng phải thay đổi, lựa chọn học sinh theo học các lớp phù hợp với năng lực của mình. Cách thức tuyển sinh vì thế cũng thay đổi theo xu hƣớng ứng dụng CNTT vào quản lý nhằm giảm thiểu tối đa thời gian, đảm bảo công tác tuyển sinh lớp 1 luôn đƣợc chính xác, khoa học. Dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc về giáo dục, một số nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề xây dựng cơ sở lí luận về quản lý công tác tuyển sinh lớp 1. Tiêu biểu có các tác phẩm “Cơ sở của khoa học quản lí” của tác giả Nguyễn Minh Đạo (Nguyễn Minh Đạo, 2017).
Tác phẩm đã trình bày những vấn đề chung nhất về quản lí nhƣ lịch sử hình thành khoa học quản lí, các khái niệm, phạm trù cơ bản của khoa học quản lí, phƣơng pháp quản lí… Bàn về QLGD có tác phẩm “Những 10 vấn đề cơ bản của Khoa học quản lí giáo dục” của tác giả Trần Kiểm (Trần Kiểm, 2008). Trong tác phẩm này, tác giả đã khái quát các tƣ tƣởng về quản lí, QLGD từ trƣớc tới nay. Ngoài ra, còn có các khái niệm đặc điểm, chức năng và phƣơng pháp quản lí, QLGD và một số mô hình QLGD trên thế giới. Qua khảo sát các nghiên cứu liên quan, tác giả nhận thấy CTTS lớp 1 ở trƣờng tiểu học cũng nhƣ QL CTTS lớp 1 ở trƣờng tiểu học là một nội dung trong quản lý nhà nƣớc về giáo dục.
Mặc dù các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc đã tiếp cận vấn đề này dƣới góc độ khác nhau, nhƣng tất cả các công trình nghiên cứu đó dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đã đặt cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu vấn đề “Quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương”. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường tiểu học 1. Quản lý Có rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ quản lý với những góc nhìn khác nhau.
Vì vậy, định nghĩa về quản lý rất đa dạng, phong phú. Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Huỳnh, Vũ Văn Tảo và Bùi Hiền, 2001, tr. Mary Parker Follett đã đƣa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý: “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” (Nguyễn Lộc, 2010, tr. Và một định nghĩa đƣợc chấp nhận khá rộng rãi khác về quản lý xét dƣới góc độ chức năng:“Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực có sẵn của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức” (Nguyễn Lộc, 2010, tr.
“Quản lý là tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ 11 chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả” (Nguyễn Lộc, 2010, tr. Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động” (Trần Kiểm, 1997).