Tổng quan nghiên cứu
Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" được Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức phát động theo Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT giai đoạn 2008-2013 nhằm nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục phổ thông. Tại địa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, mạng lưới giáo dục tiểu học năm học 2008-2009 có quy mô tương đối lớn với 36 trường công lập, 606 lớp học và 17.632 học sinh. Mặc dù 100% số trường tiểu học trong huyện đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, thứ hạng chất lượng giáo dục toàn diện của huyện nhiều năm liền chỉ đứng ở nhóm cuối (xếp thứ 6 đến thứ 7 trên tổng số 8 huyện, thành phố thuộc tỉnh Thái Bình).
Thực tế quản lý cho thấy nhiều cán bộ quản lý và giáo viên còn lúng túng trong việc cụ thể hóa 5 nội dung cốt lõi của trường học thân thiện vào thực tiễn nhà trường. Toàn huyện vẫn còn 78 phòng học xuống cấp nặng (chiếm 13,0% tổng số phòng học) và tỷ lệ học sinh được tổ chức ăn bán trú đạt dưới 1%, thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân 11% của toàn tỉnh. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để đổi mới mô hình quản lý trường tiểu học nhằm tạo ra môi trường học đường an toàn, bình đẳng và phát huy tối đa tính tích cực của người học.
Luận văn xác định mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá chính xác thực trạng công tác quản lý tại 36 trường tiểu học huyện Hưng Hà giai đoạn từ đầu năm học 2008-2009 đến đầu năm học 2009-2010, từ đó đề xuất 6 biện pháp quản lý đồng bộ. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp hệ thống giải pháp giúp nâng tỷ lệ phòng học kiên cố từ 72,7% lên trên 90%, phấn đấu tăng tỷ lệ giáo viên dạy giỏi cấp huyện và cấp tỉnh từ 19,8% lên trên 30%, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của giáo dục địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý tổ chức cổ điển của Henry Fayol kết hợp quan điểm quản lý hiện đại của James Stoner và Stephen Robbins, cấu trúc hóa hoạt động quản lý trường học thành chu trình 4 chức năng cốt lõi: Kế hoạch hóa (Planning), Tổ chức (Organizing), Lãnh đạo (Directing/Leading) và Kiểm tra đánh giá (Controlling). Đồng thời, nghiên cứu kế thừa quan điểm quản lý giáo dục của các học giả Việt Nam như Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo và Phạm Minh Hạc, xem quản lý nhà trường là hệ thống các tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến tập thể sư phạm và học sinh nhằm hiện thực hóa mục tiêu đào tạo nhân cách.
Khung phân tích trường học thân thiện được xây dựng dựa trên mô hình Child-Friendly Schools (CFS) của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) với 13 đặc trưng bắt nguồn từ Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989, Tuyên ngôn Giáo dục cho mọi người (Jomtien, 1990) và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs, 2000). Tại Việt Nam, mô hình này được bản địa hóa thông qua 4 khái niệm trung tâm:
- Quản lý giáo dục: Sự tác động có định hướng của các cơ quan quản lý ngành để vận hành hệ thống giáo dục theo đường lối của Nhà nước.
- Quản lý nhà trường: Quá trình tổ chức, điều hành các nguồn lực vật chất, con người và quá trình sư phạm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
- Môi trường giáo dục thân thiện: Không gian học tập an toàn, bao dung, tôn trọng quyền trẻ em, đảm bảo vệ sinh học đường và không có bạo lực.
- Học sinh tích cực: Người học chủ động chiếm lĩnh tri thức, tích cực tham gia các hoạt động tập thể và rèn luyện kỹ năng sống.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua hệ thống phiếu khảo sát ý kiến và dữ liệu thứ cấp trích xuất từ Báo cáo số 82/BC-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Hưng Hà cùng số liệu thống kê chuyên môn của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hưng Hà. Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn bộ 36 trường tiểu học công lập trên địa bàn huyện Hưng Hà, bao gồm 79 cán bộ quản lý (36 Hiệu trưởng, 43 Phó Hiệu trưởng) và 918 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy. Phương pháp chọn mẫu kết hợp khảo sát toàn diện theo 3 phân hạng trường: hạng 1 (2 trường), hạng 2 (7 trường) và hạng 3 (27 trường).
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê toán học (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định mức độ tương quan và xếp hạng thứ bậc) là nhằm lượng hóa chính xác mức độ quan trọng, tính cấp thiết và tính khả thi của từng giải pháp đề xuất. Quy trình nghiên cứu kết hợp giữa phân tích tài liệu lý luận, điều tra thực tiễn bằng bảng hỏi, quan sát sư phạm và phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý giáo dục. Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ tháng 8/2008 đến tháng 10/2009.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực trạng quản lý tại 36 trường tiểu học huyện Hưng Hà đã chỉ ra 3 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đạt tỷ lệ chuẩn hóa rất cao nhưng cơ cấu chuyên môn còn mất cân đối. 100% cán bộ quản lý (79/79 người) đạt trình độ đào tạo trên chuẩn, trong đó có 91,2% (72 người) đạt trình độ đại học sư phạm và 94,9% đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục. Tỷ lệ giáo viên có trình độ trên chuẩn đạt 79% (726/918 người), cao hơn mức bình quân 75% của tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, toàn huyện thiếu hụt 30 giáo viên môn Thể dục (chỉ có 31 giáo viên trên nhu cầu 61 người) và thiếu 34 nhân viên hành chính, đặc biệt 100% các trường chưa có nhân viên y tế học đường chuyên trách.
Thứ hai, hạ tầng cơ sở vật chất trường học có sự chênh lệch lớn giữa các địa bàn. Toàn huyện hiện có 601 phòng học cho 606 lớp, trong đó phòng học kiên cố chiếm 72,7% (437 phòng), phòng bán kiên cố chiếm 14,3% (86 phòng) và còn tới 13,0% phòng học xuống cấp nặng (78 phòng). Trang thiết bị phục vụ đổi mới phương pháp giảng dạy còn hạn chế khi toàn huyện chỉ có 32 máy chiếu đa năng phân bổ tại 28/36 trường. Tỷ lệ bàn ghế học sinh đạt chuẩn 2 chỗ ngồi mới đạt mức bình quân 84% (7.892 bộ), cá biệt tại trường Tiểu học Phúc Khánh tỷ lệ này chỉ đạt 20,4% và trường Tiểu học Văn Lang đạt 33,2%.
Thứ ba, việc tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện và dịch vụ bán trú còn khoảng cách xa so với yêu cầu chuẩn hóa. Toàn huyện mới chỉ có 2/36 trường (chiếm 5,6%) tổ chức nấu ăn bán trú cho học sinh với tỷ lệ tham gia đạt dưới 1% tổng số học sinh, chênh lệch rất lớn so với tỷ lệ 11% bình quân toàn tỉnh. Về công trình phụ trợ, mặc dù có 70 công trình vệ sinh tự hoại trên toàn cấp học, nhưng chỉ có 1 trường duy nhất có đủ nhà vệ sinh tự hoại đạt chuẩn phân chia riêng cho giáo viên và học sinh theo từng giới tính; 3 trường (Cộng Hòa, Tân Hòa, Thị trấn Hưng Nhân) hoàn toàn chưa có nhà vệ sinh tự hoại.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ điều kiện kinh tế thuần nông của huyện Hưng Hà (nông nghiệp chiếm 32,93% cơ cấu kinh tế năm 2008), nguồn vốn đầu tư ngân sách cho giáo dục còn phân tán do tồn tại quá nhiều điểm trường lẻ. Bên cạnh đó, năng lực điều hành của một bộ phận cán bộ quản lý trường học còn mang nặng tính hành chính sự vụ, chưa xây dựng được kế hoạch dài hạn để thu hút các nguồn lực xã hội hóa giáo dục.
Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Yến và Trần Công Khanh khi đánh giá về những rào cản triển khai trường học thân thiện tại khu vực nông thôn Bắc Bộ: việc thiếu thốn công trình vệ sinh đạt chuẩn và thiếu giáo viên kỹ năng sống là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm mức độ an toàn, thân thiện của môi trường học đường.
Để biểu diễn trực quan các phát hiện trên, dữ liệu có thể được thể hiện thông qua biểu đồ cột chồng minh họa cơ cấu phòng học kiên cố, bán kiên cố và xuống cấp phân theo từng xã; kết hợp bảng số liệu ma trận so sánh tỷ lệ đáp ứng thiết bị dạy học hiện đại (máy tính, máy chiếu, bàn ghế 2 chỗ ngồi) giữa 3 phân hạng trường tiểu học. Điều này chứng minh rằng việc xây dựng trường học thân thiện đòi hỏi sự chuyển dịch đồng thời giữa đầu tư hạ tầng kỹ thuật và nâng cao năng lực sư phạm của nhà giáo.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý trọng tâm:
- Nâng cao nhận thức và lập kế hoạch chiến lược: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hưng Hà chỉ đạo 100% cán bộ quản lý và giáo viên tham gia tập huấn chuyên đề về tiêu chuẩn trường học thân thiện; yêu cầu Ban Giám hiệu 36 trường hoàn thành xây dựng kế hoạch hành động chi tiết giai đoạn 2009-2013 ngay trong học kỳ 1 năm học 2009-2010.
- Kiên cố hóa hạ tầng và hiện đại hóa trang thiết bị dạy học: Ủy ban nhân dân huyện Hưng Hà và Ban Giám hiệu các trường huy động nguồn lực xã hội hóa nhằm xóa bỏ hoàn toàn 78 phòng học xuống cấp nặng, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố lên trên 95% trước năm 2012; phấn đấu 100% trường có phòng máy vi tính kết nối mạng, trang bị tối thiểu 2 máy chiếu đa năng mỗi trường và xây dựng hệ thống nhà vệ sinh tự hoại đạt chuẩn riêng biệt nam nữ trước năm 2011.
- Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá: Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, phấn đấu đạt tỷ lệ tối thiểu 30% tổng số tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin; chuyển đổi phương thức đánh giá kết quả học tập từ cho điểm đơn thuần sang nhận xét khích lệ sự tiến bộ của 17.632 học sinh theo định hướng phát triển phẩm chất.
- Tăng cường giáo dục kỹ năng sống và phối hợp liên ngành: Nhà trường chủ động phối hợp với Đoàn Thanh niên và Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Hưng Hà tổ chức định kỳ các hội thi trò chơi dân gian, liên hoan văn nghệ và hoạt động chăm sóc di tích lịch sử địa phương, đảm bảo 100% học sinh được rèn luyện kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích, đuối nước và an toàn giao thông trong lộ trình 12 tháng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cán bộ quản lý Phòng Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo: Tiếp cận khung phân tích thực chứng và các tiêu chí đánh giá thực trạng hệ thống 36 trường tiểu học để chỉ đạo, quy hoạch mạng lưới trường lớp và bố trí biên chế giáo viên đồng bộ trên địa bàn cấp huyện.
- Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường tiểu học: Tham khảo quy trình 4 chức năng quản lý, phương pháp xây dựng kế hoạch hành động chiến lược và các biện pháp huy động nguồn lực xã hội hóa nhằm cải tạo cảnh quan sư phạm xanh - sạch - đẹp.
- Giáo viên tiểu học và Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong: Ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực, kỹ thuật kiểm tra đánh giá tạo động lực và quy trình tổ chức trò chơi dân gian, tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào bài giảng chính khóa và ngoại khóa.
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát 79 nhà quản lý và 918 giáo viên làm tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao cho các đề tài nghiên cứu về đổi mới quản lý giáo dục phổ thông.
Câu hỏi thường gặp
Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn tại huyện Hưng Hà là gì?
Luận văn tập trung đánh giá toàn diện thực trạng quản lý tại 36 trường tiểu học với 17.632 học sinh trên địa bàn huyện Hưng Hà, xác định các điểm nghẽn về cơ sở vật chất và phương pháp sư phạm, từ đó đề xuất hệ thống 6 giải pháp quản lý đồng bộ theo Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT.
Bất cập lớn nhất về cơ sở vật chất của các trường tiểu học Hưng Hà thời điểm nghiên cứu là gì?
Toàn huyện còn 78 phòng học xuống cấp nặng (chiếm 13,0%) và 86 phòng bán kiên cố. Mặc dù diện tích đất bình quân đạt 17 m²/học sinh, chỉ có 1 trường duy nhất sở hữu công trình vệ sinh tự hoại riêng biệt đạt chuẩn cho giáo viên và học sinh theo từng giới tính.
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học Hưng Hà có điểm mạnh nào nổi bật?
100% cán bộ quản lý (79 người) đạt trình độ đào tạo trên chuẩn với 91,2% có bằng đại học sư phạm. Đồng thời, 79% trong tổng số 918 giáo viên đạt trình độ trên chuẩn, cao hơn mức bình quân 75% của tỉnh Thái Bình.
Tác giả đề xuất biện pháp nào để đổi mới phương pháp dạy học trong trường tiểu học thân thiện?
Biện pháp trọng tâm là chuyển dịch từ dạy học truyền thụ một chiều sang tổ chức hoạt động học tập tích cực, khai thác tối đa 32 máy chiếu đa năng hiện có, tăng cường thảo luận nhóm và đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng trân trọng từng tiến bộ nhỏ của học sinh.
Sự khác biệt giữa mô hình trường học thân thiện của UNICEF và mô hình tại Việt Nam là gì?
UNICEF đưa ra 13 đặc trưng phổ quát toàn cầu dựa trên quyền trẻ em, trong khi mô hình tại Việt Nam được cụ thể hóa thành 5 nội dung thực tiễn: cơ sở vật chất xanh sạch đẹp, dạy học hiệu quả, rèn luyện kỹ năng sống, hoạt động tập thể lành mạnh và chăm sóc di tích lịch sử địa phương.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý giáo dục tiểu học theo định hướng xây dựng trường học thân thiện dựa trên khung chuẩn của UNICEF và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Khảo sát thực chứng đã phản ánh khách quan bức tranh giáo dục huyện Hưng Hà với 36 trường tiểu học, 606 lớp học, chỉ rõ ưu thế về chuẩn hóa nhân lực (79% giáo viên trên chuẩn) và bất cập về hạ tầng (78 phòng học xuống cấp).
- Đề xuất hệ thống 6 nhóm biện pháp quản lý khả thi, kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư cơ sở vật chất, bồi dưỡng đội ngũ và đổi mới phương pháp sư phạm.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao vị thế giáo dục tiểu học huyện Hưng Hà, phấn đấu vươn lên nhóm các huyện dẫn đầu tỉnh Thái Bình.
- Định hình lộ trình thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2009-2013, tạo tiền đề để các cấp quản lý giáo dục vận dụng linh hoạt vào thực tiễn nhà trường.
Các cấp lãnh đạo giáo dục, ban giám hiệu nhà trường và giáo viên hãy cùng tham khảo các giải pháp trong luận văn để kiến tạo môi trường học đường an toàn, hạnh phúc, nơi mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui của học sinh.