Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là một nội dung mới trong chương trình GDPT 2018. Có rất ít tài liệu nghiên cứu sâu, tổng hợp về nội dung này, phần lớn chỉ tìm thấy các nghiên cứu có tính độc lập ở từng nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp hoặc hoạt động trải nghiệm. Các nghiên cứu ở nước ngoài a.
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp Theo quan niệm của UNESCO, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Nhà trường phải có khả năng vẽ lên một bức tranh rõ nhất về khả năng của mỗi học sinh. Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn nghề thích hợp, dự báo những khó khăn trong học tập và giải quyết những vấn đề xã hội khi cần. Pháp: Pháp là một trong những nước có hoạt động tư vấn nghề và hướng nghiệp sớm trên thế giới.
Năm 1848, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” mà nội dung chủ yếu là về vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp nhằm giúp cho thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ. Nhằm để hiện đại hóa nền giáo dục, vào năm 1975 nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục và quan tâm hơn trong chăm lo giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho HS, khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao động là một hoạt động giáo dục loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học). Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả ở Viện nghiên cứu Quốc gia nhấn mạnh đến môi trường lao động, vai trò to lớn của các trung tâm hướng nghiệp trong công tác tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh và thanh, thiếu niên, trong đó, các tổ chức xã hội đã có nhiều đóng góp trong việc phối hợp với nhà trường và các trung tâm để tổ chức giáo dục hướng nghiệp. Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp cho học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp.
Ở Australia: Giáo dụchướng nghiệp trong các nhà trường là việc phát triển các kĩ năng. kỉến thức và quan điểm thông qua một chương trình học đã được hoạch định từ trước. Những kĩ năng, kiến thức này sẽ giúp học sinh trở thành những người hiểu biết khi đưa ra các quyết định về học đường cũng như hậu học đường và làm việc có hiệu quả về sau này. Tại Australia, giáo dục nghề nghiệp (Career Education) nhằm phát triển những kĩ 5 năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình học tập được kế hoạch hoá để giúp học sinh đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp sau khi học xong bậc phổ thông.
Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Australia cũng rất giống với giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường nước Anh, xác định bốn kiểu bài tập cho học sinh, tuy khác nhau nhưng cũng có quan hệ với nhau. Các chương trình sẽ giúp học sinh nhận ra những cơ hội nghề nghiệp có thể gặp, những đặc điểm cá nhân có thể sử dụng trong những cơ hội đó; giúp học sinh có những kĩ năng cần thiết trong việc ra quyết định và có thể dự đoán cũng như vượt qua những giai đoạn chuyển giao sau mỗi thời kì trong sự nghỉệp của họ. Việc coi những hình thức bài tập khác nhau trên như là các yếu tố của giáo dục hướng nghiệp là rất hữu ích. Chúng tạo thành những bộ khung lí thuyết tốt để: - Mô tả các họạt động học tập điển hình.
- Xác định các kết quả có thể thu được từ học sinh. Tuy nhiên, trong thực tế, các yếu tố đó có mối liên hệ gần gũi và đều không thể thiếu trong bất cứ một chương trình GDHN nào. Allan Walker trong công trình khoa học Một số vấn đề về quản lí gíáo dục ở Australia đã chỉ ra: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lí thuyết, mà phải cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng gỉữa các học sinh, làm cho học sinh vừa có kĩ năng lao động vừa có tri thức” [24]. Hoa Kì: Mục tiêu của giáo dục nước Mỹ là nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, tăng cường kết quả học tập của học sinh nhằm đảm bảo cung cấp một lực lượng lao động có trình độ; có khả năng cạnh tranh và thích ứng linh hoạt trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu.
Học sinh được học chương trình “Giáo dục nghề nghiệp” từ tiểu học. Chương trình này góp phần thực hiện mối liên hệ giữa nhà trường và sản xuất. Người ta đã đưa ra nhiều hướng giải quyết và đưa ra nội dung cần tăng cường với các chiến lược quan trọng, trong đó tăng cường các mối quan hệ giữa trường trung học với doanh nghiệp theo hướng chuyển dần thành trường đào tạo chuyên nghiệp. Một phần của chiến lược này là tạo cơ hội cho học sinh tham gia làm việc bán thời gian tại xí nghiệp.
Tại Mỹ đã thành lập những hội đồng thực hiện sự hợp tác giữa nhà trường với xã hội, bao gồm đại diện của trường học, xí nghiệp, các thành phần kinh tế trong thị trường lao động. Học sinh được thực hành lao động và học những nghề khác nhau như thợ hàn, thợ cơ khí tự động, thợ trang điểm. ở các xí nghiệp khác nhau. Ở Nhật Bản: Theo tác giả Magumi Nishino thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Nhật, học sinh trung học phải được bồi dưỡng kĩ năng lao động cơ bản của ngành nghề: “Bồi dưỡng trí thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân [19].
Trong những năm 50 của thế kỉ XX, Nhật đã quan tâm đến vấn đề hoàn thiện 6 nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật, cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, góp phần quan trọng cho công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông. Trong quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống giáo dục, Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao động nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kĩ thuật về các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. và hầu hết các loại hình trường dạy nghề đồng thời cũng cung cấp học vấn phổ thông tương đương bậc trung học với việc đào tạo các kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp chuyên môn.
Ngoài việc học các môn học theo kế hoạch chung, các ban hướng nghiệp dạy nghề còn căn cứ vào lĩnh vực đào tạo chuyên môn của mình mà tổ chức cho học sinh đi sâu tìm hiểu các môn học cụ thể thuộc lĩnh vực đó. Hoạt động trải nghiệm Hoạt động trải nghiệm được hầu hết các nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống… Singapore: Hội đồng nghệ thuật quốc gia có chương trình giáo dục nghệ thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật… Netherlands: Thiết lập trang mạng nhằm trợ giúp những học sinh có những sáng tạo làm quen với nghề nghiệp. Học sinh gửi hồ sơ sáng tạo (dự án) của mình vào trang mạng này, thu thập thêm những hiểu biết từ đây; mỗi học sinh nhận được khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án của mình. Vương quốc Anh: Cung cấp hàng loạt tình huống, bối cảnh đa dạng, phong phú cho học sinh và đòi hỏi phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kĩ năng trong chương trình, cho phép học sinh sáng tạo và tư duy; giải quyết vấn đề làm theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn; cung cấp cho học sinh các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm… Đức: Từ cấp Tiểu học đã nhấn mạnh đến vị trí của các kĩ năng cá biệt, trong đó có phát triển kĩ năng sáng tạo cho trẻ; phát triển khả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình.
Nhật: Nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo. Hàn Quốc: Mục tiêu hoạt động trải nghiệm sáng tạo hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo. Cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, cấp Trung học phổ thông phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo gồm 4 nhóm hoạt động chính: Hoạt động tự chủ (thích ứng, tự chủ, tổ chức sự kiện, sáng tạo độc lập.); Hoạt 7 động CLB (hội thanh niên, văn hóa nghệ thuật, thể thao, thực tập siêng năng.); Hoạt động tình nguyện (chia sẻ quan tâm tới hàng xóm láng giềng và những người xung quanh, bảo vệ môi trường); Hoạt động định hướng (tìm hiểu thông tin về hướng phát triển tương lai, tìm hiểu bản thân.
Có thể lựa chọn và tổ chức thực hiện một cách linh hoạt sao cho phù hợp với đặc điểm của học sinh, cấp học, khối lớp, nhà trường và điều kiện xã hội của địa phương. Các nghiên cứu ở trong nước HĐHN ở trường phổ thông đã được Đảng và Chính phủ quan tâm từ rất sớm, nhưng công tác hướng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam còn là một phạm trù rất mới mẻ cả về lý thuyết và hoạt động thực tiễn so với các nước trên thế giới.