Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phát triển kỹ năng nghề quốc gia. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Thực trạng quản lý trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phát triển kỹ năng nghề quốc gia. Chương 3: Một số biện pháp quản lý trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phát triển kỹ năng nghề quốc gia. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRÁCH NHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHỀ QUỐC GIA 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba trụ cột tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế Việt Nam. Chất lượng nguồn nhân lực cũng là một trong ba khâu đột phá để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020. Để phát triển nguồn nhân lực quốc gia cần phải đề ra nhiều giải pháp khả thi, đồng bộ, trong đó phát triển KNN có ý nghĩa quan trọng. Luật dạy nghề tạo hành lang pháp lý phát triển dạy nghề và phát triển KNNQG, dành riêng 01 chương quy định về đánh giá, cấp chứng chỉ KNNQG.
Để cụ thể hóa các quy định của luật, một số văn bản hướng dẫn luật được ban hành, đáp ứng thực tiễn dạy nghề, trong đó các bản pháp luật về KNNQG cũng được xây dựng, ban hành và triển khai. Qua 8 năm triển khai Luật dạy nghề và các văn bản hướng dẫn thi hành, cho thấy dạy nghề được Nhà nước và xã hội quan tâm nên có bước phát triển tích cực, từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực qua ĐTN cho các ngành kinh tế, nhất là ở các vùng kinh tế trọng điểm, các ngành kinh tế mũi nhọn. Từ năm 2008 đến nay các nghề đào tạo được mở rộng, đáp ứng nhu cầu thực tế của các DN, từng bước phù hợp với sự phát triển các ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Chương trình dạy nghề được xây dựng xuất phát từ thực tiễn.
Các điều kiện đảm bảo chất lượng được cải thiện nên KNN của người tốt nghiệp tại các CSDN có bước chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của các DN, 80-85% lao động qua ĐTN được sử dụng đúng trình độ đào tạo; 30% có kỹ năng nghề khá trở lên. Ở một số nghề (nghề Hàn, nghề dịch vụ nhà hàng, nấu ăn, thủy thủ tàu biển, thuyền trưởng và một số nghề thuộc lĩnh vực viễn thông…) KNN của lao động Việt Nam đã đạt chuẩn quốc tế [2, tr. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau hơn 6 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã thể hiện được vai trò, vị trí của mình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, điều đó đã và đang đặt ra những thách thức về lao động, việc làm, trong đó có vấn đề nâng cao KNN cho NLĐ đáp ứng yêu cầu hội nhập trình độ KNN khu vực và thế giới. Thực tế, chất lượng lao động Việt Nam không được đánh giá cao, trình độ chuyên môn, KNN của NLĐ còn thấp….Vì vậy, lực lượng lao động và cộng đồng DN Việt Nam bên cạnh việc đối mặt với chính năng lực nội tại của mình sẽ phải còn đối mặt với nhiều thách thức về năng lực cạnh tranh với DN và lao động nước ngoài. Theo đánh giá của các cơ quan hữu quan thì “công tác dạy nghề nói chung, kỹ năng nghề nói riêng chưa thiết lập được mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với các chủ thể thuộc lĩnh vực dạy nghề…Sự tham gia của doanh nghiệp vào lĩnh vực dạy nghề, kỹ năng nghề rất bị động, có sự thiếu hụt về các văn bản pháp lý quan trọng và những quy định về cộng đồng doanh nghiệp là một trong những chủ thể của hoạt động dạy nghề” [2, tr. KNN và TCKNN là vấn đề khá mới, vì vậy chưa có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu liên quan.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (Mã số CB 2008-02-05) các tác giả đã khẳng định : “Xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo, đào tạo người lao động thích ứng với các tiêu chuẩn của sản xuất, người sử dụng lao động có cơ sở để tuyển chọn lao động, bố trí công việc và trả lương hợp lý cho người lao động”. Đồng thời các tác giả đề xuất cơ chế: “Phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng chuẩn kỹ năng nghề cho các nghề đào tạo. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề phải tính tới việc công nhận tương đương trong khu vực và quốc tế để thuận lợi cho việc di chuyển lao động có kỹ năng”. Trong tài liệu nghiên cứu “Dạy nghề Việt Nam 2001” của Viện khoa học dạy nghề các tác giả cho rằng: “Đã có những tập đoàn, doanh nghiệp nhận thức được rất rõ lợi ích của việc đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động và đã đưa ra quy định bắt buộc người lao động muốn tham gia hoạt động 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong nghề phải có giấy chứng nhận đánh giá kỹ năng nghề”.
Như vậy đã xác nhận trách nhiệm tham gia của DN đến xây dựng và phát triển KNN. Trong tài liệu nghiên cứu “Chế độ dạy nghề và chế độ xác nhận trình độ kỹ thuật quốc gia” của Phòng Thương mại và công nghiệp Hàn Quốc đề cập đến “Quy định và nghĩa vụ đào tạo nghề, xây dựng kỹ năng nghề đối với chủ doanh nghiệp có quy mô nhất định”. Đồng thời khi phân tích về hệ thống TCKNN Việt Nam các tác giả đã chỉ ra điểm yếu sau: “Các doanh nghiệp không nhiệt tình tham gia vào các hoạt động cấp chứng chỉ kỹ năng nghề, xã hội và doanh nghiệp thiếu quan tâm đến chứng chỉ kỹ năng nghề” và khuyến nghị xây dựng “Luật đánh giá kỹ năng và cấp chứng chỉ nghề” với sự tham gia nhiều hơn của DN trong Luật này.167] Những khó khăn, thách thức xuất phát từ thực tiễn hoạt động dạy nghề đang đặt ra những yêu cầu đối với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các DN trong việc phối hợp, “chung tay” cùng tháo gỡ, tìm giải pháp đột phá nhằm nâng cao KNN cho NLĐ. Cơ chế, pháp luật về phát triển KNNQG và việc nâng cao trách nhiệm của DN trong lĩnh vực này phải được xem là một trong những giải pháp trọng tâm.
Một số khái niệm liên quan 1. Quản lý Quản lý có nghĩa là tiến hành một công việc, là làm cho sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức. Quản lý là hoạt động chung của toàn bộ tổ chức [22, tr. Khái niệm quản lý còn được hiểu là sự tương tác giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức.
Bốn chức năng quản lý chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch; Tổ chức; Lãnh đạo và Kiểm tra [22, tr. - Kế hoạch: là một chức năng quản lý. Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng khá trìu tượng ấy thành hiện thực.
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. - Lãnh đạo: bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ, hướng dẫn họ, chỉ đạo họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. - Kiểm tra: là một chức năng quản lý thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc tổ chức theo dõi, đánh giá các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Kiểm tra xong cần phải theo dõi và cần thiết thì phải chỉnh sửa, uốn nắn.
Kế hoạch Kiểm tra, đánh giá Tổ chức Thông tin Chỉ đạo Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lí 1. Quản lý đào tạo nghề 1. Đào tạo nghề Đào tạo nghề là một hoạt động đào tạo với mục tiêu cơ bản là giúp người được đào tạo chuẩn bị năng lực thực hiện một nghề.
Hơn nữa, ĐTN là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân có mục tiêu đem lại cơ hội nghề nghiệp và việc làm cho NLĐ trên cơ sở rèn luyện và phát triển những năng lực, kỹ năng và kiến thức cần thiết đáp ứng nhu cầu công việc. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐTN là quá trình phát triển một cách có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và hướng vào hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: ĐTN là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao. ĐTN không chỉ là một hoạt động được định hướng nhằm rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho việc đảm nhận một vị trí nghề nghiệp nhất định mà là thiết chế cung cấp và tăng cường những năng lực cần thiết cho NLĐ tham gia TTLĐ.
Ngày nay, NLĐ không chỉ gắn bó suốt đời với một vị trí làm việc nhất định tại DN mà họ cần có năng lực để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau trong quá trình lao động cũng như đảm nhận những vị trí công việc phức tạp hơn đòi hỏi những kiến thức, kỹ năng cao hơn tại DN. Quan điểm trước đó về ĐTN như là một giai đoạn ngắn trước khi bước vào quá trình lao động. Tuy nhiên, theo tác giả thì TTLĐ cũng như các yếu tố khoa học- kỹ thuật luôn thay đổi nhanh chóng đòi hỏi nhìn nhận ĐTN thực sự là một quá trình lâu dài gắn liền với những hoạt động giáo dục khác, cho nên, NLĐ phải tiếp tục gắn mình với quá trình đào tạo, phải cập nhật những kiến thức và kỹ năng mới để duy trì công việc, thăng tiến trong nghề nghiệp. Quản lý đào tạo nghề Quản lý ĐTN là chức năng và hoạt động của hệ thống tổ chức nhà nước đảm bảo duy trì trạng thái phát triển ổn định và thực hiện hiệu quả các chính sách nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển .