Tổng quan nghiên cứu
Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược trong bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tỉnh Sóc Trăng là địa bàn đa dân tộc, đa tôn giáo với 10 tôn giáo hợp pháp và 698.461 tín đồ. Trong đó, huyện Trần Đề là huyện ven biển có vị trí đặc thù với 3 tôn giáo chính gồm Phật giáo, Công giáo và Cao Đài. Toàn huyện có 72.285 tín đồ, chiếm 55,57% tổng dân số, phân bố tại 52 cơ sở thờ tự với 40 chức sắc và 320 chức việc. Sự đa dạng này tạo nên nét văn hóa đặc sắc nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý hành chính, nhất là khi 87,42% số tín đồ thuộc Phật giáo và có sự đan xen giữa đồng bào dân tộc Kinh, Khmer, Hoa.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ những bất cập trong thực tiễn điều hành tại địa phương: tiến độ giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến đất đai và xây dựng cơ sở thờ tự còn chậm, cơ chế phân cấp quản lý chưa đồng bộ, nhận thức pháp luật của một bộ phận chức sắc và tín đồ còn hạn chế, cùng nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây mất ổn định an ninh trật tự.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cấp huyện, đánh giá thực trạng quản lý tại huyện Trần Đề trong giai đoạn 2015-2021, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2025.
Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học cho 62 cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo trên địa bàn huyện Trần Đề, đồng thời hỗ trợ chính quyền 11 xã, thị trấn hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, nâng cao tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính tôn giáo đúng hạn đạt trên 95% và giữ vững ổn định chính trị tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý hành chính công và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo. Theo lý thuyết quản lý nhà nước, quản lý hoạt động tôn giáo là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực công quyền nhằm điều chỉnh các hành vi, quá trình tôn giáo diễn ra theo khuôn khổ pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của công dân và phục vụ lợi ích phát triển kinh tế - xã hội.
Khung phân tích của đề tài dựa trên các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX và hệ thống hóa theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Luận văn làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo: Sự thực thi quyền lực của hệ thống cơ quan nhà nước nhằm định hướng, điều chỉnh hành vi tôn giáo theo Hiến pháp và pháp luật.
- Hoạt động tôn giáo: Các hoạt động truyền bá giáo lý (truyền đạo), thực hành nghi lễ, giáo luật (hành đạo) và quản trị tổ chức giáo hội (quản đạo).
- Pháp nhân tôn giáo: Tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp lý và bảo hộ hoạt động.
- Thể nhân tôn giáo: Các cá nhân gồm chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tham gia sinh hoạt tôn giáo hợp pháp.
Mô hình nghiên cứu xác lập tiêu chí nhận diện một tôn giáo hoàn chỉnh gồm 5 yếu tố cấu thành: Giáo chủ, Giáo lý, Giáo luật, Giáo lễ và Giáo hội. Đồng thời, mô hình quản lý cấp huyện được chuẩn hóa theo 9 nội dung chuyên môn, từ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức bộ máy, thanh tra kiểm tra đến quản lý đất đai và hoạt động từ thiện xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết công tác tôn giáo giai đoạn 2015-2021 của Phòng Nội vụ huyện Trần Đề, Ban Dân vận Huyện ủy và Ban Tôn giáo tỉnh Sóc Trăng.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu.
Cỡ mẫu khảo sát gồm 180 đối tượng, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trên địa bàn 9 xã và 2 thị trấn của huyện Trần Đề. Cơ cấu mẫu phân bổ cụ thể: 40 chức sắc, 60 chức việc, 50 tín đồ thuộc 3 tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Cao Đài) và 30 cán bộ, công chức trực tiếp phụ trách công tác tôn giáo cấp huyện, cấp xã. Việc chọn mẫu phân tầng giúp phản ánh đầy đủ quan điểm đa chiều giữa chủ thể quản lý và đối tượng chịu sự quản lý.
Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp định tính. Lý do lựa chọn phương pháp này là vì quản lý tôn giáo vừa mang tính định lượng qua các chỉ số hành chính, vừa mang tính định tính sâu sắc liên quan đến tâm lý, niềm tin tâm linh và phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, hoạt động của Phật giáo giữ vai trò chủ đạo với quy mô tín đồ và cơ sở vật chất lớn nhất tại huyện Trần Đề. Toàn huyện có 66.900 tín đồ Phật giáo (chiếm 87,42% tổng số người có đạo), sinh hoạt tại 14 chùa Phật giáo Nam tông Khmer, 23 SalaTel, 2 chùa Bắc tông, 2 tịnh thất và 2 cơ sở Tịnh độ Cư sĩ. Về mặt nhân sự, huyện có 346 tăng ni và nhà tu hành (339 vị thuộc hệ phái Nam tông, 7 vị thuộc Bắc tông). Công tác giáo dục tôn giáo đạt kết quả ấn tượng khi tổ chức thành công 3 lớp Pali với 546 tăng sinh, 1 lớp Dhammavini với 142 học viên và các lớp Ánh sáng văn hóa hè thu hút 1.065 học sinh tham gia học chữ Khmer.
Thứ hai, Công giáo và đạo Cao Đài duy trì sinh hoạt nề nếp nhưng có sự khác biệt rõ rệt về quản lý tài sản và đất đai. Đạo Công giáo có 8.227 tín đồ (chiếm 6,1% dân số huyện), tập trung tại 3 giáo xứ gồm Bảy Giá, Ngan Rô và Micae. Toàn bộ 100% cơ sở thờ tự Công giáo đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong giai đoạn khảo sát, giới Công giáo đã đóng góp trên 602 triệu đồng cho hoạt động an sinh xã hội. Ngược lại, đạo Cao Đài có 577 tín đồ thuộc 2 hệ phái (Cao Đài Tây Ninh và Cao Đài Minh Chơn Đạo) với 2 cơ sở thờ tự, đóng góp khoảng 200 triệu đồng và 5.000 kg gạo từ thiện mỗi năm; tuy nhiên, mới chỉ có 50% cơ sở (1 trên 2 cơ sở) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thứ ba, công tác quản lý đất đai và xây dựng cơ sở thờ tự Phật giáo còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Khoảng 30% cơ sở Phật giáo chưa hoàn thành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tình trạng tự ý cơi nới, tôn tạo, xây dựng công trình phụ trợ không xin phép chính quyền vẫn diễn ra tại một số chùa vùng sâu. Ngoài ra, việc người dân mượn đất chùa để ở qua nhiều thế hệ tạo ra các tranh chấp dân sự phức tạp, gây khó khăn cho công tác quản lý của chính quyền cơ sở.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở cấp xã còn thiếu tính chuyên trách. Toàn huyện có 62 cán bộ làm công tác tôn giáo từ cấp huyện đến cấp cơ sở. Dù 100% lãnh đạo Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo cấp xã đạt chuẩn lý luận chính trị, nhưng phần lớn cán bộ phụ trách là kiêm nhiệm. Tỷ lệ cán bộ cơ sở được đào tạo bài bản, chuyên sâu về chuyên môn tôn giáo chỉ đạt khoảng 25%, chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu bồi dưỡng theo Quyết định số 174/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính của các hạn chế bắt nguồn từ sự chuyển giao giữa hệ thống văn bản pháp luật cũ và mới, khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đòi hỏi quy trình quản lý minh bạch, chặt chẽ hơn. Trong khi đó, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến các cơ sở tôn giáo vùng sâu chưa đồng bộ, rào cản ngôn ngữ đối với đồng bào Khmer khiến việc tiếp cận các quy chuẩn xây dựng và đất đai gặp nhiều trở ngại.
So sánh với các địa bàn có nét tương đồng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, huyện Trần Đề có thế mạnh lớn về sự đồng thuận của các vị sư sãi và chức sắc tôn giáo trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tuy nhiên, sự phối hợp liên ngành giữa Phòng Nội vụ, Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng lực lượng Công an huyện có thời điểm chưa thực sự kịp thời, dẫn đến tình trạng xử lý các vụ việc xây dựng trái phép còn mang tính bị động.
Dữ liệu nghiên cứu về thực trạng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa các tôn giáo có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh: Công giáo đạt tỷ lệ 100%, Phật giáo đạt khoảng 70% và Cao Đài đạt 50%. Đồng thời, kết quả khảo sát trình độ chuyên môn của 62 cán bộ tôn giáo có thể được tổng hợp thành bảng phân loại ma trận đa chiều, giúp chính quyền địa phương dễ dàng nhận diện lỗ hổng năng lực tại từng địa bàn xã.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn huyện Trần Đề đến năm 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp phép xây dựng cho cơ sở thờ tự. Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Phòng Nội vụ và Ủy ban nhân dân các xã tiến hành đo đạc, lập hồ sơ địa chính cho 100% cơ sở tôn giáo chưa có giấy tờ hợp lệ, mục tiêu hoàn thành cấp quyền sử dụng đất cho toàn bộ 52 cơ sở thờ tự trước quý IV/2023. Đồng thời, ban hành quy trình rút ngắn thời gian cấp phép xây dựng cơ sở tôn giáo từ 30 ngày xuống còn 20 ngày làm việc.
Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ 62 cán bộ làm công tác tôn giáo. Phòng Nội vụ huyện chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo giai đoạn 2022-2024 theo Quyết định số 174/QĐ-TTg, bảo đảm 100% cán bộ kiêm nhiệm cấp xã và tối thiểu 95% cán bộ cấp huyện được bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về tín ngưỡng, tôn giáo, kỹ năng công tác dân vận và tiếng dân tộc Khmer.
Thứ ba, thiết lập quy chế phối hợp liên ngành giải quyết các vấn đề tôn giáo phát sinh. Ủy ban nhân dân huyện ký kết quy chế phối hợp giữa Công an huyện, Ban Chỉ huy Quân sự huyện, Phòng Nội vụ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện. Cơ chế này bảo đảm trao đổi thông tin định kỳ 1 tháng/lần và xử lý 100% các điểm nóng khiếu kiện đất đai, ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo trong vòng 48 giờ kể từ khi phát sinh vụ việc.
Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho chức sắc và tín đồ. Phòng Tư pháp huyện phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo, Ban Đoàn kết Công giáo và các họ đạo Cao Đài tổ chức định kỳ 22 hội nghị tuyên truyền mỗi năm tại 11 xã, thị trấn. Mục tiêu thu hút trên 85% chức sắc, chức việc và trên 70% tín đồ tham gia nắm vững Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cùng các quy định pháp luật liên quan.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:
Thứ nhất, cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo và quản lý nhà nước tại các cơ quan quản lý công quyền cấp huyện, cấp tỉnh. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn giúp xử lý các hồ sơ hành chính về thuyên chuyển chức sắc, cấp phép xây dựng và quản lý đất đai cho 52 cơ sở thờ tự trên địa bàn.
Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Tôn giáo học và Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát xã hội học phân tầng trên cỡ mẫu 180 đối tượng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nam Bộ.
Thứ ba, chức sắc, chức việc, người đứng đầu các tổ chức Phật giáo, Công giáo và Cao Đài. Nghiên cứu giúp các nhà tu hành hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm công dân và quy trình thực hiện các thủ tục hành chính tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Thứ tư, các cơ quan an ninh, quân sự và khối đoàn thể chính trị - xã hội tại các địa phương ven biển. Luận văn cung cấp góc nhìn toàn diện để xây dựng thế trận an ninh nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết giữa 72.285 tín đồ tôn giáo với các tầng lớp nhân dân.
Câu hỏi thường gặp
Quy trình thuyên chuyển chức sắc tôn giáo theo quy định hiện hành diễn ra như thế nào?
Theo Điều 35 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản đến cơ quan chuyên môn cấp tỉnh nơi đi và nơi đến trước ít nhất 20 ngày. Với trường hợp chức sắc đang bị buộc tội hoặc chưa được xóa án tích, tổ chức tôn giáo phải gửi văn bản đăng ký và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày.
Cơ sở tôn giáo khi xây mới hoặc sửa chữa cần tuân thủ những thủ tục nào?
Căn cứ Điều 34 và Điều 35 Nghị định số 92/2012/NĐ-CP, việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tôn giáo bắt buộc phải nộp hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền. Đối với việc sửa chữa nhỏ không làm thay đổi kết cấu chịu lực của công trình thì không phải xin giấy phép nhưng phải thông báo cho chính quyền địa phương.
Tỷ lệ tín đồ tôn giáo trên tổng dân số huyện Trần Đề là bao nhiêu?
Toàn huyện Trần Đề có 72.285 tín đồ thuộc 3 tôn giáo được công nhận, chiếm 55,57% dân số toàn huyện. Trong đó, Phật giáo chiếm tỷ lệ cao nhất với 87,42% số tín đồ (tương đương 66.900 người), Công giáo có 8.227 tín đồ (chiếm 6,1% dân số) và đạo Cao Đài có 577 tín đồ sinh hoạt tại 2 hệ phái.
Nguyên nhân nào khiến công tác quản lý đất đai tôn giáo tại huyện còn gặp vướng mắc?
Nguyên nhân xuất phát từ lịch sử hình thành đất đai phức tạp khiến khoảng 30% cơ sở Phật giáo và 50% cơ sở Cao Đài chưa hoàn tất việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thêm vào đó, việc người dân mượn đất chùa sinh sống lâu năm và nhận thức pháp luật đất đai của một bộ phận chức sắc còn hạn chế làm gia tăng khiếu nại.
Cơ cấu và trình độ của đội ngũ cán bộ phụ trách tôn giáo cấp cơ sở tại Trần Đề hiện nay ra sao?
Huyện có 62 cán bộ làm công tác tôn giáo, trong đó 11 xã, thị trấn đều có Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo. Dù 100% trưởng, phó ban đạt chuẩn lý luận chính trị, song hầu hết cán bộ cơ sở hoạt động kiêm nhiệm và chỉ mới có khoảng 25% được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ tôn giáo theo Đề án 174/QĐ-TTg.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cấp huyện, bám sát các quan điểm của Đảng và khung pháp lý của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
- Đánh giá chi tiết thực trạng quản lý 3 tôn giáo chính trên địa bàn huyện Trần Đề giai đoạn 2015-2021 với quy mô 72.285 tín đồ, 52 cơ sở thờ tự và 62 cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm.
- Nhận diện chính xác các hạn chế cốt lõi về quản lý đất đai khi 30% cơ sở Phật giáo chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sự thiếu hụt kỹ năng chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi cao nhằm chuẩn hóa 100% thủ tục đất đai trước quý IV/2023 và bồi dưỡng trên 95% cán bộ đạt chuẩn nghiệp vụ tôn giáo đến năm 2024.
- Thiết lập lộ trình thực hiện rõ ràng từ năm 2022 đến 2025, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát huy nguồn lực tôn giáo và xây dựng huyện Trần Đề ngày càng văn minh, giàu đẹp.
Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là xây dựng mô hình quản trị công bằng số liệu thực chứng tại một địa bàn ven biển đặc thù có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và các tổ chức tôn giáo có thể ứng dụng ngay các phát hiện và khuyến nghị của đề tài để nâng cao hiệu lực quản lý và thúc đẩy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.