Chương 1: Cơ sở lý luậnvề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1.
Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý: là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan2. Quản lý nhà nước:là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật3. Quản lý xã hội xuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa; là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí nhà quản lý và quy luật khách quan. Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành.
Khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm, từ đó quản lý nhà nước xuất hiện. Hiện nay, khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả 2 Ban tôn giáo chính phủ, Nguyễn Thanh Xuân (2020), Pháp nhân tôn giáo ở Việt Nam…t19 3 Ban tôn giáo chính phủ, Nguyễn Thanh Xuân (2020), Pháp nhân tôn giáo ở Việt Nam…t20 9 các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội. Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp.Trước đây, trong quản lý và thực tiễn, khi xác định chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, người ta thường coi quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình chấp hành và điều hành theo Hiến pháp và pháp luật của hệ thống cơ quan hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi trong hoạt động tôn giáo, để những hoạt động ấy diễn ra trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đến nay, theo tinh thần đổi mới của Nghị quyết số 24 và Nghị quyết số 25 thì làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
Như vậy, “Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo là hệ thống cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực để tác động, điều chỉnh các quá trình, các hành vi của cá nhân, tổ chức xã hội4” 1.2 Khái niệm hoạt động tôn giáo Tôn giáo:Là một trong những lĩnh vực có nhiều hướng tiếp cận và định nghĩa, hoặc từ gốc độ triết học hoặc gốc độ lịch sử, hoặc gốc độ văn hóa, hoặc gộc độ chính trị…Tiếp từ gốc độ nhận diện tôn giáo, năm 2008, Nguyễn Cao Thanh đưa ra định nghĩa khái quát về tôn giáo “Tôn giáo là niềm tin của con người vào thế giới siêu nhiên và những hành vi thực hiện niềm tin”. Từ định nghĩa này có thể tóm gọn lại Tôn giáo là đức tin (là niềm tin vào thế giới siêu nhiên) và sự thờ phụng (hành vi thực hiện niềm tin) còn gọi là thực hành tôn giáo. Ngoài hai yếu tố đức tin và hành vi, sau này Nguyễn Quốc Tuấn cho rằng tiếp cận tôn giáo cần bổ sung yếu tố thực thể hay cổng đồng tôn giáo. Vậy, tôn giáo là niềm tin, hành vi và cộng đồng (cộng đồng tôn giáo mang tín tổ chức).
Luật tín ngưỡng tôn giáo (Hiện hành) thống nhất khái niệm “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ ghi và tổ chức” Đôi khi từ tôn giáo cũng được dùng để chỉ tổ chức tôn giáo, một tổ chức gồm nhiều cá nhân cùng chung tín ngưỡng và việc thờ phụng, thường tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân. 4 Ban tôn giáo chính phủ, Nguyễn Thanh Xuân (2020), Pháp nhân tôn giáo ở Việt Nam…t20 10 Trong tính đa dạng của tôn giáo hiện nay có nhiều quan niệm về tôn giáo và những tiêu chí xác định tôn giáo cụ thể cũng rất khác nhau, theo chúng tôi, tiêu chí để xác định một tôn giáo cụ thể phải đảm bảo năm yếu tố: Giáo chủ, người sinh ra tôn giáo hay người khai sáng. Giáo lý (lý thuyết tính thiêng), triết lý tôn giáo, mỗi tôn giáo có giáo lý riêng. Giáo luật, luật lệ, giới răn của tôn giáo, mỗi tôn giáo có giáo luật riêng.
Giáo lễ, nghi lễ của tôn giáo, mỗi tôn giáo có giáo lễ riêng Giáo hội, tổ chức của tôn giáo, mỗi tôn giáo có giáo hội riêng. Hoạt động tôn giáo:là những hoạt động của chức sắc, tổ chức tôn giáo phục vụ cho các cộng đồng tôn giáo ảnh hưởng đến xã hội. Đó là hoạt động “hành đạo, quản đạo và truyền đạo”. Truyền bá giáo lý và giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là tuyên truyền về nguồn gốc sự ra đời, giáo thuyết, luật lệ của tổ chức tôn giáo.
Thông qua họat động truyền giáo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo của tín đồ được thực hiện. Hoạt động truyền giáo còn giúp những người chưa phải tín đồ hiểu biết, tin theo tôn giáo và phát triển thêm số lượng tín đồ. Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn niềm tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ. Quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực hiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo.
Trong các hoạt động nêu trên, việc phân định ranh giới giữa truyền đạo với hành đạo là tương đối. Bởi vì, nhiều trường hợp, trong hành đạo có truyền đạo. Như vậy,“Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo5”.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Tư tưởng về xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân là điểm cơ bản nhất để phân biệt sự khác nhau giữa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các hình thức nhà nước khác. Tất cả mọi quyền lực trong nước là của toàn thể 5 Khoản 11, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo (hiện hành) 11 nhân dân Việt Nam, là công cụ quyền lực của nhân dân, là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Do đó, nhà nước có trách nhiệm quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, thông qua hệ thống thiết chế tổ chức, những quy định mang tính nhà nước và pháp quyền…nhà nước quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực (trong đó có lĩnh vực tôn giáo) nhằm làm cho xã hội tồn tại trong trật tự và ổn định. Ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, toàn bộ tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước; là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. Quản lý nhà nước bao gồm hệ thống tập hợp các văn bản pháp luật nhà nước với những thiết chế bộ máy được phân công theo từng chức năng.
Mức độ và hiệu quả thực hiện chức năng này rất khác nhau trong các nhà nước khác nhau cũng như ở các giai đoạn phát triển khác nhau của chính nhà nước đó. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính nhà nước (hay nói cách khác đi là quyền lực công, công quyền) nhằm tổ chức và điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước.Vận dụng các cơ sở lý luận trên về Quản lý nhà nước, tác giả xác định Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình dùng quyền lực Nhà nước (quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh các quá trình tôn giáo (của mọi tổ chức tôn giáo) và hành vi hoạt động tôn giáo (của mọi thể nhân tôn giáo) để chúng diễn ra đúng với chủ trương của Nhà nước – thể hiện trong luật pháp Nhà nước (đó là chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo và công tác tôn giáo đã được thể chế hóa thành Pháp luật Nhà nước) đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý. Chức năng này quy định cho các cơ quan nhà nước thuộc cả ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo” là một dạng quản lý nhà nước mang tính chất nhà nước, nó tổ chức và điều chỉnh quá trình hoạt động tôn giáo của các pháp nhân tôn giáo và các thể nhân tôn giáo bằng quyền lực nhà nước.
Trong 12 khái niệm này có hai điểm cần lưu ý: “Pháp nhân tôn giáo” là những tổ chức giáo hội từ cơ sở trở lên đã được Nhà nước cho phép hoạt động, có tư cách pháp nhân, được Nhà nước bảo hộ; “Thể nhân tôn giáo” là các tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận và cho phép hoạt động bình thường (không thuộc diện đó thì không phải là pháp nhân tôn giáo).