Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế TNDN 1. Những vấn đề cơ bản về thuế TNDN 1. Khái niệm thuế TNDN Thuế TNDN có lịch sử hình thành từ rất sớm được thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau.
Ở Việt Nam, tiền thân của thuế TNDN là thuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận). Từ năm 1990, Quốc hội ban hành luật thuế Lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình SXKD của đối tượng nộp thuế. Theo Hoàng Văn Bằng (2009), “Thuế TNDN là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước”.
Theo Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự (2008), “Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của doanh nghiệp sau khi trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở SXKD, dịch vụ”. Theo Nguyễn Thị Bất và Vũ Duy Hào (2002): “Thuế TNDN là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở SXKD trong một khoảng thời gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh”. Dựa vào căn cứ và phương pháp tính thuế TNDN, thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: “Thuế TNDN là một loại thuế trực thu, thu trên kết quả hoạt động SXKD cuối cùng của doanh nghiệp. Đối tượng nộp thuế TNDN là tất cả các tổ chức SXKD hàng hóa, dịch vụ, có thu nhập đều phải nộp thuế TNDN” (Thông tư 156/2013/TT-BTC).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Như vậy, thuế TNDN là loại thuế trực thu, đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế đều là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Căn cứ tính thuế TNDN được xác định là phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ tất cả các loại chi phí hợp lý phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm của thuế TNDN Thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có sự biến động qua các giai đoạn để phù hợp sự phát triển của nền kinh tế, theo Nguyễn thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2008), thuế TNDN có những đặc điểm sau: Thứ nhất, thuế TNDN có đối tượng đánh thuế là thu nhập: Trong hệ thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau. Đối với thuế TNDN, thuế được lấy từ thu nhập còn lại của doan nghiệp sau khi trừ các khoản chi phí phục vụ sản xuất kinh doanh để tập trung vào quỹ NSNN.
Như vậy, đối tượng đánh thuế của thuế TNDN là thu nhập của doanh nghiệp cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh sản xuất hàng hóa, dịch vụ. Thứ hai, thuế TNDN là loại thuế trực thu: Ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho NSNN, thuế TNDN còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thực hiện việc áp dụng đánh thuế theo các sắc thuế khác nhau đối với những doanh nghiệp có quy mô khác nhau. Do vậy, thuế TNDN được đánh giá là loại thuế thực thu, căn cứ trên phần thu nhập thực tế của đối tượng nộp thuế.
Thứ ba, thuế TNDN là một loại thuế phức tạp, có tính ổn định không cao: Việc quản lý thuế, thu thuế TNDN tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các thuế khác. Do ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm phát sinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thu nhập, tính ổn định của thu nhập… Trong phần xác định thu nhập doanh nghiệp chịu thuế, phải xác định được các khoản chi phí khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với doanh nghiệp tuân thủ nghiêm pháp luật thuế. Thứ tư, thuế TNDN là một khoản chuyển giao của doanh nghiệp (DN) nộp thuế cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng, nó phân biệt thuế TNDN với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN.
Đặc điểm này xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - Việc động viên mang tính bắt buộc của Nhà nước. Thứ năm, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN được quy định trước bằng pháp luật: Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế TNDN, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập này không mang tính tùy tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế TNDN. Những tiêu thức thường được xác định trong Luật thuế TNDN là đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. Vai trò của thuế TNDN - Thuế TNDN là công cụ quan trọng để nhà nuớc thực hiện việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào NSNN được công bằng, hợp lý. Mặt khác, các DN thua lỗ trong SXKD vừa không phải đóng thuế TNDN, vừa có thể được chuyển lỗ sang các năm sau để có cơ hội phục hồi và giảm tình trạng phá sản DN (Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự, 2008). - Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN. Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, một khi nền kinh tế thị trường phát triển, tăng trưởng kinh tế được bảo đảm, hoạt động SXKD, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thì khả năng huy động nguồn tài chính cho NSNN thông qua thuế TNDN sẽ ngày càng dồi dào.
Mặt khác, so với các loại thuế khác, thuế TNDN dễ thu, ít tốn kém chi phí nên hiệu quả thu cũng cao hơn nhiều. Ở các nước đang phát triển, tiền thu được từ thuế TNDN nhiều hơn nhiều so với thuế thu nhập cá nhân. Còn ở các nước phát triển mặc dù thu từ thuế TNDN ít hơn so với thuế thu nhập cá nhân nhưng thuế TNDN giữ vai trò là loại thuế thu trước của thuế thu nhập cá nhân (Nguyễn thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu, 2008). - Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy SXKD phát triển theo hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước.
Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước ưu tiên khuyến khích phát triển trong từng giai đoạn nhất định (Lê Văn Ái, 2009). Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thuế TNDN 1. Khái niệm quản lý thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế, trước hết, cần tiếp cận khái niệm quản lý.
Theo từ điển điện tử Wikipedia thì "Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management, tiếng latin manum agere - điều khiển bằng tay) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình)". Theo Hoàng Văn Hoan (2006): "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". Theo Nguyễn Thanh Hội (2005): "Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm dạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất". Từ việc tổng hợp, phân tích các khái niệm quản lý, có thể khái quát về Quản lý Thuế TNDN như sau: Quản lý thuế TNDN có thể được hiểu là các hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 động của các chủ thể quản lý trong việc thực hiện các hoạt động về lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm thực thi tốt nhất hệ thống chính sách thuế TNDN, đảm bảo cho các chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh.
Như vậy, quản lý thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh là các hoạt động quản lý được thực hiện bởi chủ thể quản lý là cơ quan thuế cấp tỉnh. Đối tượng chịu sự quản lý là các DN có các hoạt động kinh tế thuộc diện điều chỉnh của Luật Quản lý thuế và các Luật thuế trong phạm vi quản lý của Cục thuế tỉnh. Theo đó, cơ quan thuế cấp tỉnh sẽ tiến hành lập dự toán, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra, giám sát đối với công tác thu, nộp thuế TNDN của các DN trên địa bàn thông qua các chi cục thuế cấp huyện, thị xã. Mục tiêu của quản lý thuế TNDN Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện những quy định trong Luật thuế nhằm huy động những khoản tiền thuế vào NSNN theo luật định.
Theo điều 1 Luật Quản lý thuế năm 2015 quy định “Việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật”. Quản lý thuế là một nội dung quan trọng trong quản lý tài chính Nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu sau: Một là, tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN từ các nguồn, các đối tượng trên địa bàn được giao quản lý, trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu (Nguyễn Thị Bất, Vũ Duy Hào, 2002). Hàng năm, thuế TNDN có số thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thuế nộp vào NSNN.