CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 Những vấn đề chung về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm, bản chất, chức năng, vai trò của thuế 1.1 Khái niệm về thuế Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước. Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” [3, tr26] Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng , nhiệm vụ của nhà nước.” [3, tr26] Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.” [3, tr26] Theo từ điển tiếng việt:“Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.” Từ các đặc trưng trên của thuế, ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế là: “ Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.” Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra được một số đặc trưng chung của thuế là: Luan van 8 Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mỗi quan hệ tiền tệ phát sinh dưới nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mỗi quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ỹ nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.2 Bản chất của thuế Thuế là một trong những dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước.
Thuế xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Vì vậy, bản chất của thuế gắn liền với Nhà nước. Để bảo đảm duy trì sự tồn tại của Nhà nước và thực hiện các chức năng của mình, nhất thiết Nhà nước phải có nguồn tài chính nhất định. Có thể nói thuế là hình thức động viên cổ xưa nhất của tài chính Nhà nước.
ở Việt Nam, những mầm mống đầu tiên của thuế xuất hiện dưới thời Hùng vương bằng các hình thức người dân phải cống nạp một số vật phẩm của mình như: lương thực, thú vật săn bắn, sản phẩm thủ công cho các Lạc tướng và các Lạc tướng lại trích nộp lên Vua. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng nhiệm vụ và quyền lực của Nhà nước, đã một mặt, làm gia tăng các khoản chi tiêu của Nhà nước, mặt khác cho phép Nhà nước được can thiệp sâu hơn vào mọi hoạt động xã hội. Chính điều này đã làm cho thuế có những biến đổi sâu sắc và các thứ thuế khác nhau ra đời. Các Nhà nước sử dụng công cụ thuế ngày càng hoàn hảo hơn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và điều hòa thu nhập của xã hội.
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có định nghĩa thống nhất về thuế. Theo từ điển Tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v. buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức qui định”. Như vậy, một định nghĩa hoàn chỉnh về thuế cần hàm chứa các nội dung sau: Thứ nhất, làm rõ nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ Luan van 9 giữa Nhà nước với đối tượng nộp thuế (ĐTNT).
Điều đó có nghĩa Nhà nước dùng quyền lực của mình để đặt ra các loại thuế và sử dụng thuế là công cụ chủ yếu để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và do cơ quan lập pháp qui định Thứ hai, mối quan hệ trên nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt. Việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước và phải được qui định bằng pháp luật, không có sự bồi hoàn trực tiếp. Thứ ba, thuế là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội. Từ các yếu tố trên đây, có thể hiểu thuế là một hình thức đóng góp cho Nhà nước theo nghĩa vụ do luật định đối với các thể nhân và pháp nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội.
Nó không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế; được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho NSNN, điều chỉnh kinh tế và điều hòa thu nhập.3 Chức năng của thuế Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Hiện nay, có nhiều cách phân loại khác nhau về chức năng của thuế từ mức độ tổng quát cũng như mức độ cụ thể. Nhìn chung, chức năng của thuế được thừa nhận từ lâu nay là chức năng phân phối và giám đốc.
Tuy nhiên, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì thuế được nhìn nhận với nhiều chức năng chia nhỏ hơn với cách độc lập, đó là: - Chức năng huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước - Chức năng điều hòa thu nhập. - Chức năng bảo vệ, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng. - Chức năng giao lưu và hợp tác kinh tế quốc tế Thực chất, dù có xem chức năng của thuế theo khía cạnh hay góc độ nào đi chăng nữa, nhưng nhìn vào quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta có thể thấy thuế có hai chức năng cơ bản: chức năng huy động nguồn lực tài chính Luan van 10 cho Nhà nước và chức năng điều chỉnh. Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính cho Nhà nước Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà nước.
Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế. Nhờ chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính mà quĩ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính những chức năng này tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó, vai trò chức năng huy động và tập trung nguồn lực tài chính của thuế ngày càng được nâng cao.
Nhà nước thông qua thuế tiến hành phân phối một bộ phận đáng kể tổng sản phẩm quốc nội. Thuế trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường. Chức năng điều chỉnh Chức năng điều chỉnh của thuế được nhận thức và vận dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh Nhà nước về kinh tế. Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu quả tất yếu đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng quĩ tài chính Nhà nước mà nguồn hình thành chủ yếu từ thuế.
Nhu cầu về nguồn lực tài chính càng lớn thì sự cần thiết phải tăng cường các chức năng của thuế càng cấp bách để tác động một cách có hiệu quả đến nền kinh tế quốc dân. Chính trong quá trình đó, chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính và chức năng điều chỉnh của thuế đã được sử dụng một cách hiện thực. Chức năng điều chỉnh của thuế được thực hiện thông qua việc qui định các hình thức thuế khác nhau, các đối tượng đánh thuế, đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế đúng đắn. Từ đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quĩ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích xã hội.
Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều chỉnh của thuế đã được thực hiện. Luan van 11 Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò kích thích kinh tế của thuế ngày càng được nâng cao. Nhà nước dùng công cụ thuế để tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân.4 Vai trò của thuế Sử dụng cơ chế thị trường để giải quyết 3 vấn để cơ bản của nền kinh tế (sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai) đều có những ưu, nhược điểm riêng, từ đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế -xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng. Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoặch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ.
Trong các công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và Thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội.