Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác Quản lý thuế GTGT các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dƣơng giai đoạn 2013 - 2015; Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dƣơng trong những năm tới. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nƣớc và cũng là công cụ để Nhà nƣớc thực hiện chính sách vĩ mô của mình. Trong các sắc thuế đƣợc ban hành Thuế GTGT là sắc thuế chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của Ngân Sách Nhà nƣớc.
Thực tế những năm gần đây, tình trạng khủng hoảng tài chính diễn ra ở rất nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có một số nƣớc lớn nhƣ Mỹ và một số nƣớc ở khu vực Châu Âu…gây ảnh hƣởng không nhỏ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó ảnh hƣởng lớn đến nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nƣớc. Vì vậy, công tác quản lý thuế GTGT của các Cục thuế, chi cục thuế ở nƣớc ta cho đến nay đã đƣợc nghiên cứu rất nhiều. Phan Chí Nam (2014) trong nghiên cứu về công tác quản lý thuế giá trị gia tăng ở cục thuế tỉnh Thái Nguyên đã đề cập đến cơ sở lý luận về thuế GTGT và quản lý thuế giá trị gia tăng với các nội dung: khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế GTGT, nội dung quản lý thuế GTGT, các phƣơng pháp nghiên cứu thuế GTGT…Đồng thời, tác giả cũng đƣa ra những phân tích, thực trạng công tác quản lý thuế GTGT cục thuế tỉnh Thái Nguyên năm 2011 - 2013. Từ đó, đề xuất các giải pháp cải thiện công tác quản lý thuế GTGT tại cục thuế tỉnh Thái Nguyên.
Châu Thanh Trúc (2011) trong đề tài Công tác quản lý thuế GTGT tại chi cục thuế Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập đến cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và công tác quản lý thuế GTGT, các yếu tố ảnh hƣởng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến công tác quản lý thuế… Đồng thời, tác giả cũng đƣa ra những phân tích để đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại chi cục thuế quận 2. Từ việc phân tích đó, tác giả đƣa ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT trên địa bàn. Nguyễn Thị Tƣơi (2010) trong đề tài thực trạng công tác quản lý và thu thuế giá trị gia tăng tại chi cục thuế thị xã Sa Đéc đã đề cập đến cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng. Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT, những thuận lợi và khó khăn trong quản lý thuế và đƣa ra đƣợc một số giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác quản lý thuế GTGT phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn.
Vũ Thị Lan Phƣơng (2015) trong đề tài Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với Doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lắc cũng đã đề cập đến cơ sở lý luận về thuế GTGT và công tác quản lý thuế GTGT ở Việt Nam; Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với Doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lắc giai đoạn 2009. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thuế GTGT và công tác quản lý thuế GTGT nói trên đã đƣa ra đƣợc cơ sở lý luận, thực trạng công tác quản lý thuế và một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế trong từng phạm vi địa bàn cụ thể. Thừa kế và tham khảo các nghiên cứu đi trƣớc, luận văn phát triển các nội dung cơ bản về quản lý thuế GTGT của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và dựa vào điều kiện kinh tế hiện tại để phân tích thực trạng quản lý thuế GTGT tại thành phố Hải Dƣơng.
Đây chính là đóng góp và điểm mới của luận văn này so với các công trình nghiên cứu khác cùng lĩnh vực. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế GTGT Thuế là một công cụ tài chính vô cùng quan trọng, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc mà bất cứ quốc gia nào cũng sử dụng công cụ thuế để tham gia vào việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình.
Thuế giống nhƣ một vết dầu loang trên một dòng sông. Theo thời gian, thuế ngày càng thẩm thấu và lan tỏa ra mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, ảnh hƣởng đến mọi hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Năm 1726, nhà chính trị kiêm nhà văn Daniel Defoe trong quyển “The Political History of the Devil” đã khẳng định “Những thứ nhƣ thuế và cái chết có thể đƣợc tin là chắc chắn hơn những thứ khác”. Năm 1817, nhà khoa học nổi tiếng của Mỹ Benjiamin Franklin trong quyển “The World of Benjiamin Franklin” đã viết “Trên thế giới không có thứ gì có thể đƣợc nói là chắc chắn, ngoại trừ cái chết và thuế”.
Điều này đã chứng minh đƣợc sự lan tỏa và tính tất yếu của thuế. Tùy thuộc vào từng thể chế chính trị, từng giai đoạn lịch sử khác nhau đã rất nhiều học thuyết về thuế. Tuy nhiên cho đến nay các khái niệm đều thừa nhận Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Trong quá trình hoàn thiện hệ thống chính sách thuế các quốc gia, đã xuất hiện một sắc thuế ƣu việt, có số thu chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng thu từ thuế, đó là thuế Giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế Doanh thu, đƣợc nghiên cứu và áp dụng nhằm khắc phục những hạn chế của thuế Doanh thu nhƣ: tránh tình trạng tính thuế trùng lắp, việc thực hiện tổ chức quản lý dễ dàng và đơn giản hơn, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang tính trung lập và dân chủ cao. Đây là một loại thuế đƣợc thu vào mỗi giai đoạn sản xuất, lƣu thông sản phẩm hàng hóa, đi từ khâu nguyên liệu cho đến sản phẩm hoàn thành và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Do đó, thuế GTGT còn đƣợc xem là thuế Doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trƣớc đó.
Việc chuyển sang áp dụng thuế GTGT thay thế cho thuế Doanh thu ở Việt Nam, vừa nhằm mục đích từng bƣớc hoà nhập với chính sách thuế của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới, đồng thời vƣơn tới việc cải cách hệ thống thuế khóa thích hợp hơn cho việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Đặc điểm của thuế GTGT Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhƣng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế thu đƣợc của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Giá trị gia tăng là phần giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đại lƣợng này có thể đƣợc xác định bằng phƣơng pháp cộng hoặc phƣơng pháp trừ. Theo phƣơng pháp cộng, GTGT là trị giá các yếu tố cấu thành giá trị tăng thêm bao gồm tiền công và lợi nhuận. Theo phƣơng pháp trừ, GTGT chính là khoản chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ trừ đi tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tƣơng ứng.
Tổng giá trị gia tăng ở tất cả các giai đoạn luân chuyển đúng bằng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Do vậy, việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn tƣơng đƣơng với số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Đặc điểm này thể hiện tính ƣu việt tránh việc đánh thuế trùng lắp giữa các khâu, đảm bảo cho việc tính đúng và tính đủ, tránh thất thu thuế, thuận lợi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho công tác quản lý. Tuy nhiên nó cũng có nhƣợc điểm là gây khó khăn cho công tác quản lý trong việc quản lý hóa đơn, chứng từ.
Thứ hai, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của ngƣời cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT không bị ảnh hƣởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của ngƣời nộp thuế, bởi qúa trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế; sản phẩm đƣợc luân chuyển qua nhiều hay ít các giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi. Thứ ba, thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu.
Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nƣớc đánh vào thu nhập hay tài sản của ngƣời chịu thuế nhƣng gián tiếp thông qua hàng hóa, dịch vụ mà họ tiêu thụ. Loại thuế này đƣợc cấu thành vào giá của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, ngƣời tiêu dùng phải trả gánh nặng thuế một cách gián tiếp khi thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho ngƣời bán. Đối với loại thuế này, ngƣời nộp thuế và ngƣời chịu thuế không đồng thời là một. Ngƣời nộp thuế là ngƣời sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, còn ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dùng cuối cùng hàng hóa, dịch vụ đó.
Thứ tư, thuế GTGT là loại thuế có tính lũy thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, ngƣời tiêu dùng phải trả gánh nặng thuế GTGT khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Do vậy, ngƣời tiêu dùng phải trả gánh nặng thuế theo mức độ tiêu dùng của mình chứ không dựa vào khả năng, điều kiện, hoàn cảnh của họ.