phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo thì nội dung của khoá luận được trình bày gồm 3 phần sau: Phần 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Phần 2: Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu. Phần 3: Thực trạng quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế khu vực Sông Công – Đại Từ. Phần 4: Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế khu vực Sông Công - Đại Từ.
4 PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Khái quát chung về các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm và vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh.
Theo hình thức sở hữu tài sản thì doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý. Hiện nay, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân. Thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế khu vực ngoài quốc doanh nói chung, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển vượt bậc.
Thực tiễn đã khẳng định những đóng góp của khu vực này trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vai trò Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển góp phần mang lại lợi ích kinh tế - xã hội ổn định cho đất nước. DN NQD đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế như: - Góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cùng với sự gia tăng về số lượng và các ngành nghề kinh doanh phong phú đa dạng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như: thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất… đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hàng năm ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã mở mang ra nhiều ngành nghề, thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh 5 hoạt động hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thị trường. Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước ưa chuộng. Một số DN đã tạo thêm mặt hàng mới, thị trường mới, sản phẩm đã có sức cạnh tranh. Không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh từng bước đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước và xuất khẩu sang thị trường quốc tế.
DN NQD có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàm lượng tri thức, cũng như trong những lĩnh vực kinh doanh không cần nhiều vốn và lợi nhuận thấp mà các nhà đầu tư lớn ít quan tâm từ đó góp phần tích cực vào việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và các chương trình kinh tế xã hội do Nhà nước đề ra. - Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có vai trò lớn trong việc ổn định nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp trong cả nước, hiện nay trên địa bàn thành phố Sông Công đang quản lý là 600 doanh nghiệp đang hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh 11 DN, tạm ngừng kinh doanh 34 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung thu hút, tạo việc làm tại chỗ cho hàng trăm nghìn lao động trên địa bàn tỉnh thu nhập mỗi lao động trung bình 3,5 triệu đồng/tháng.
Nhiều doanh nghiệp lo đủ việc làm cho hàng ngàn lao động với mức thu nhập bình quân 5 triệu đồng/tháng. Đồng thời, các doanh nghiệp còn đảm bảo quyền lợi, chính sách đối với người lao động như tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Như vậy, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, ổn định kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các vùng nông thôn, địa bàn khó khăn chưa có điều kiện công nghiệp hoá. - Tạo cho ngân sách nhà nước có nguồn thu ổn định và ngày càng tăng Nhà nước phải đầu tư vốn, quản lý điều hành đối với Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nhà nước không phải đầu tư vốn nhưng nhà nước đã có rất nhiều ưu đãi về đất đai và miễn giảm thuế TNDN nên cũng tạo ra những lợi thế nhất định so với các doanh nghiệp NQD.
6 Khác với các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp NQD với vai trò là chủ sở hữu về vốn và tư liệu sản xuất nên việc nộp ngân sách mới đúng bản chất là thuế, vì Nhà nước thu thuế mà không phải đầu tư và khu vực này. Những năm gần đây DN NQD phát triển nhanh và mạnh mẽ kể cả về số lượng doanh nghiệp và cả về quy mô hoạt động nên nguồn thu từ khu vực này ngày càng tăng đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế phát triển chậm…đồng thời có nguồn tài chính để tham gia các chương trình nhân đạo trong nước và quốc tế. Do đó việc quản lý thuế đối với các DN NQD của cơ quan quản lý cần phải đạt được hiệu quả cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu NSNN. - Góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội Doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có khả năng thu hút vốn trong xã hội nhanh, hiệu quả đầu tư vốn cao tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội, góp phần tích tụ tập trung tư bản tạo điều kiện để tái sản xuất làm tăng nhanh nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều có những đặc điểm chung đó là: - Tính chất sở hữu tư nhân về tư liệu lao động. Sở hữu về tư liệu lao động là cho quyền lợi của mỗi thành viên trong doanh nghiệp được gắn liền với nhau, có ý thức trách nhiệm cao, tập trung được nguồn lực vào công việc của mình. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN gắn liền với quyền lợi cá nhân của người sản xuất. Do đó bất cứ một thay đổi nào ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến các thành viên trong doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp rất năng động trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư và sẵn sàng đầu tư bằng bất cứ giá nào để thu được thật nhiều lợi nhuận với những phương án kinh doanh rất độc đáo.
Để đạt được mục đích kinh doanh và lợi nhuận đôi khi họ coi thường pháp luật kể cả trốn thuế gây hậu quả xấu cho xã hội và là cho công tác quản lý thu thuế đối với DN NQD sẽ trở nên khó khăn, phức tạp hơn. - Hoạt động của các DN NQD mang tính phân tán: doanh nghiệp NQD hoạt động mang tính phân tán thiếu tính định hướng, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, 7 tập trung vào các ngành tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ ăn uống. Do loại hình kinh doanh đa dạng, hoạt động trên phạm vi rộng, quy mô không đồng đều, thiếu tính tập trung. Do đó sẽ gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc giám sát, quản lý và cũng như công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp NQD.
- Quy mô của doanh nghiệp NQD thường là nhỏ, vốn ít, cơ cấu đơn giản, bộ máy gọn nhẹ linh hoạt, số lượng công nhân ít và không mang tính chuyên môn hoá cao nên chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cuối cùng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp NQD dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế. Từ đó là cơ quan thuế rất khó kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Trình độ chuyên môn của người lao động: Lao động trong các doanh nghiệp NQD thường có trình độ văn hoá không cao do chủ yếu là các lao động phổ thông, lao động là nông dân hoặc những người không có công ăn việc làm phải kinh doanh để kiếm sống.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, chưa được đào tạo chủ yếu lao đông trong các nhà xưởng, xí nghiệp làm ra các hàng hoá sản phầm theo dây truyền sản xuất theo quy trình sẵn cố nên không đòi hỏi trình độ cao. Do đó, việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp rất nhiều vấn đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về trình độ văn hoá, thiếu thông tin về thị trường nên thiếu kĩ năng để ứng phó với tác động thị trường trong và ngoài nước. - Sự tồn tại và phát triển mang tính tự phát: doanh nghiệp NQD tồn tại và phát triển còn phụ thuộc vào cung cầu thị trường hàng hoá, phụ thuộc vào lợi nhuận tạo ra từ ngành nghề sản xuất kinh doanh và phụ thuộc vào những chính sách của Nhà nước trong việc hạn chế hay khuyến khích phát triển. - Về việc chấp hành pháp luật của Nhà nước còn nhiều hạn chế: Do người quản lý doanh nghiệp cũng là người sở hữu doanh nghiệp nên họ toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh.