CHƯƠNG 1 CỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế TNCN 1. Khái niệm thuế TNCN Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về thuế TNCN nhưng khái niệm chung nhất: “Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định (thường là một năm)”.
Về bản chất, thuế TNCN là sắc thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế. Điều đó có nghĩa là người nộp thuế cũng là người chịu thuế. Cá nhân khó có thể chuyển thuế được sang cho chủ thể khác. Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là thu nhập sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác.
Đối tượng chịu thuế TNCN mà pháp luật các quốc gia hướng tới là thu nhập của các cá nhân trong xã hội (thông thường bao gồm cả cá nhân KD và cá nhân không KD). Trong đó, TNCN có thể hiểu là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Thuế TNCN có lịch sử ra đời hàng trăm năm, được áp dụng lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó, thuế TNCN được lan truyền nhanh chóng sang các nước …Đến nay, đã có hơn 180 nước áp dụng thuế TNCN và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều quốc gia trên thế giới.
Tại Việt Nam thuế TNCN được ra đời và hoàn thiện qua các thời kỳ : - Thời kỳ phong kiến, thực dân trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Thời kỳ này, trên 90% dân số Việt Nam là nông dân. Hai sắc thuế chủ yếu đối với người nông dân là thuế ruộng (thuế điền) và thuế thân (thuế đinh), thực chất là thuế TNCN ra đời từ năm 1378 dưới thời nhà Trần. Thuế được áp dụng với mọi công dân là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nam giới từ 18 tuổi trở lên. Mức thuế phải nộp cho mỗi đinh là 3 quan tiền/năm (tương đương 54 kg thóc).
Theo báo cáo của Bộ Hộ (phụ trách thu chi tài chính quốc gia) thời Gia Long năm thứ 18 (năm 1819) trong c ả nước gồm 26 tỉnh ghi được vào sổ thuế khoảng 600.000 dân đinh nộp thuế thân và khoảng trên 1 triệu ha ruộng cả công và tư nộp thuế điền. - Thuế thu nhập ở miền Nam Việt Nam trước 30/04/1975: Từ năm 1972, chính quyền Sài Gòn đã ban hành thuế lợi tức mang tính chất là một khoản thuế thu nhập và phân biệt: Đối với thể nhân là thuế lợi tức tổng hợp của từng hộ gia đình bao gồm cả lợi tức doanh nghiệp tư nhân và thuế lương bổng; Đối với pháp nhân, có thuế lợi tức công ty và tiền lời được chia về chứng khoán. - Thuế lợi tức ở miền Bắc Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1990: Từ cuối năm 1951, trong chính sách thuế đầu tiên dưới chính quyền Cách mạng, tuy chưa có thuế TNCN nhưng có thuế lợi tức, một dạng thuế TNCN chỉ đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. - Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (năm 1991): Cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế mở, sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đời sống kinh tế xã hội có những bước chuyển biến đáng kể, nhưng kèm theo đó là sự phát sinh chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt, đã xuất hiện mâu thuẫn mới về tiền lương, tiền công giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh đó, hệ thống chính sách thuế được cải cách bước 1 (năm 1990), bên cạnh Luật Thuế lợi tức áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, Quốc hội uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 27/12/1990 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/1991, nhằm động viên sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao. Trong quá trình thực hiện đến nay Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có năm lần sửa đổi, bổ sung vào tháng 6/1994, tháng 2/1997, tháng 7/1999, tháng 5/2001 và tháng 3/2004. Các lần sửa đổi Pháp lệnh thuế TNCN nêu trên đã mở rộng phạm vi thu thuế thu nhập cá nhân sang các khu vực hưởng lương khác tại các doanh nghiệp trong nước và một số cơ quan của nhà nước, cá nhân có thu nhập cao, tăng cường công tác quản lý thu nộp thuế, nhưng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chủ yếu các lần sửa đổi vẫn là sửa mức khởi điểm tính thuế, thuế suất, giãn cách thu nhập chịu thuế giữa các bậc thuế của biểu thuế. Thuế TNCN nước ta có đóng góp ngày càng tăng vào tổng số thu từ thuế cho NSNN.
Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây. Năm 2012 luật được sửa đổi và có hiệu lực từ ngày 1/7/2013 1. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là một trong những sắc thuế chính trong hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang những đặc điểm chung của thuế vừa mang những đặc điểm của một sắc thuế riêng biệt (Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu, 2008). Thuế TNCN mang các đặc điểm chung của thuế bao gồm tính bắt buộc, tính pháp lý, tính không hoàn trả trực tiếp, cụ thể: Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc luật định (có tính pháp lý cao).
Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước. Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (NNT). Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế.
Trước khi thu thuế Nhà nước không hề cung ứng một dịch vụ công cộng nào cho NNT. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT. Ngoài ra, thuế TNCN còn có những đặc điểm của một sắc thuế riêng biệt, bao gồm: - Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của người nộp thuế; người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác. - Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội.
- Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Khi tính thuế có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. - Thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần vì xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao và động viên sự góp vốn của những người có thu nhập thấp, t hu nhập trung bình góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Thu nhập thông thường được xác định mỗi năm một lần, do đó thuế thu nhập cũng được tính toán xác định chung cho cả năm theo năm dương lịch. Tuy nhiên, thuế thu nhập cũng có thể xác định hằng quý hoặc 6 tháng một lần. Thuế TNCN đánh thuế theo nguyên tắc có xem xét đến khả năng trả thuế hay hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. Hầu hết các quốc gia đ ều gắn thuế TNCN với hệ thống các chính sách xã hội như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe.Do đó, việc đánh thuế thu nhập cá nhân luôn được xem xét gắn với hoàn cảnh thực tế của NNT, quy định các khoản giảm trừ gia cảnh khi tính thuế nhằm mục đích đảm bảo an sinh xã hội.
Thuế TNCN có tính trung lập cao hơn các loại thuế khác, việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế, không làm bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ bởi thuế TNCN không phải là yếu tố cấu th ành trong giá bán hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội. Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia. Mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, như ng trong thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội.
Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế luỹ tiến từng phần, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh. Việc đánh thuế TNCN đòi hỏi phải đảm bảo tính công bằng theo cả chiều dọc và chiều ngang. Công bằng theo chiều dọc có nghĩa là người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn.
Công bằng theo chiều ngang có nghĩa là người có khả năng nộp thuế như nhau thì phải nộp mức thuế như nhau. Khả năng nộp thuế TNCN ở đây được hiểu là thu nhập và điều kiện hoàn cảnh gia đình (xét thu nhập tính thuế TNCN).