Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các DN NQD Phần 3: Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 2.
Khái niệm Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có quy định "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh". Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp do ngƣời dân thành lập, điều hành sản xuất – kinh doanh và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và các quy định khác. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các loại hình: Công ty hợp danh, Công ty TNHH (1 thành viên hoặc từ 2 thành viên trở lên), công ty cổ phần và doanh nghiệp tƣ nhân. Các doanh nghiệp này có sự đa dạng về chủ sở hữu, hoặc là sở hữu tƣ nhân bởi một cá nhân, tổ chức hoặc là đồng chủ sở hữu, và trong đó có thể có phần sở hữu một phần của Nhà nƣớc (tùy vào tỷ lệ sở hữu phần góp vốn trong doanh nghiệp mà Nhà nƣớc có quyền chi phối hay không).
Phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: - Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp trong đó có một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ đƣợc quyền thành lập một doanh nghiệp tƣ nhân. + Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp đƣợc gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
+ Công ty Trách nhiệm hữu hạn (bao gồm Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH có hai thành viên trở lên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào doanh nghiệp. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dƣới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp doanh). Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.
Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Các DN NQD có vai trò quan trọng trong nền kinh tế: - Góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, doanh nghiệp NQD tham gia vào mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế, hàng năm các doanh nghiệp NQD đã mang lại nguồn thu đáng kể cho NSNN. Nếu nhƣ cơ chế quản lý tốt thì mức động viên từ các doanh nghiệp NQD sẽ ổn định và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu của NSNN. - Góp phần vào việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. - Là trụ cột của nền kinh tế địa phƣơng, tạo ra nhiều của cải xã hội, cải thiện đời sống nhân dân ở địa phƣơng.
- Bên cạnh đó trong những năm qua với nhu cầu phong phú về hàng hóa, dịch vụ các doanh nghiệp NQD đóng góp vai trò quan trọng trong việc đƣa hàng hóa, dịch vụ đến tay các nhà phân phối cũng nhƣ ngƣời tiêu dùng. Nhƣ vậy có thể thấy các doanh nghiệp NQD có vị trí không thể thiếu đƣợc trong nền kinh tế, sự đóng góp của các doanh nghiệp này vào sự phát triển chung của đất nƣớc là không thể phủ nhận. Thuế giá trị gia tăng 2. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu.
Ở Việt Nam, thuế GTGT đƣợc bắt đầu nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bƣớc 1 (Năm 1990). Luật thuế GTGT đƣợc Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999, thay cho thuế doanh thu trƣớc đây. Kể từ khi bắt đầu áp dụng cho đến nay đã có nhiều sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế. Tại điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 ngày 03/06/2008 có khái niệm về thuế GTGT: "Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng".
Đƣợc gọi là thuế 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GTGT vì thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất đến kinh doanh cuối cùng là tiêu dùng, và tổng số thuế thu đƣợc ở mỗi khâu bằng tổng số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Về bản chất, thuế giá trị gia tăng do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ ngƣời tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán mà ngƣời tiêu dùng phải thanh toán. Do vậy, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Theo tác giả Nguyễn Thị Liên (2009), thuế GTGT có các đặc điểm sau: - Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế gián thu: ngƣời nộp thuế GTGT là ngƣời bán HHDV, ngƣời chịu thuế về bản chất cả ngƣời bán và ngƣời mua đều chịu.
Thuế GTGT của ngƣời tiêu dùng đƣợc Nhà nƣớc gián tiếp thu thông qua ngƣời bán, cung cấp HHDV. - Thứ hai, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn, không trùng lắp: Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình SXKD nhƣng chỉ tính trên phần giá trị tăng của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế thu đƣợc của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế GTGT tính theo giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. - Thứ ba, thuế GTGT mang tính trung lập kinh tế cao: thuế giá trị gia tăng không phải là yếu tố chi phí mà là yếu tố tính thêm ngoài giá bán của ngƣời cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Kết quả kinh doanh của NNT không ảnh hƣởng trực tiếp tới thuế GTGT bởi quá trình phân chia và tổ chức các chu kỳ kinh tế; hàng hóa, dịch vụ đƣợc lƣu chuyển qua ít hay nhiều khâu thì thuế giá trị gia tăng nộp vào NSNN của tổng các khâu không đổi. - Thứ tƣ, thuế GTGT mang tính luỹ thoái so với thu nhập: Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, ngƣời tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là ngƣời phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế nhƣ nhau. Nhƣ vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì ngƣời nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngƣợc lại. - Thứ năm, thuế GTGT có tính lãnh thổ: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với HHDV xuất khẩu và đánh thuế đối với HHDV nhập khẩu. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Nguyễn Thị Liên (2009) cũng đã chỉ rõ vai trò của thuế GTGT nhƣ sau: - Thứ nhất, thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và đƣợc áp dụng rộng rãi đối với mọi cá nhân và tổ chức có tiêu thụ các HHDV vì vậy đã tạo ra nguồn thu tƣơng đối ổn định và lớn cho NSNN. - Thứ hai, thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng HHDV chịu thuế GTGT.
- Thứ ba, thuế GTGT khuyến khích đầu tƣ SXKD, chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trƣờng do tính không trùng lắp của thuế GTGT. - Thứ tƣ, thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0% đối với lĩnh vực này. - Thứ năm, thuế GTGT thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơn chứng từ và thanh toán qua ngân hàng tránh thất thu thuế GTGT. Các quy định hiện hành về thuế GTGT - Đối tượng chịu thuế: Theo quy định tại Điều 3, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII (Quốc hội, 2008) thì đối tƣợng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài), trừ các đối tƣợng không chịu thuế GTGT theo quy định của Luật thuế GTGT.
- Đối tượng không chịu thuế: Theo quy định hiện hành về thuế GTGT có 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tƣợng không chịu thuế GTGT. - Người nộp thuế: Tại Điều 4, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII (Quốc hội, 2008) quy định: “Ngƣời nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (gọi là ngƣời nhập khẩu)”. - Thuế suất thuế GTGT: Thuế suất hiện nay Việt Nam đang áp dụng các mức 0%, 5%, 10% - Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giá tính thuế: Theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 (Quốc hội, 2013), giá tính thuế đƣợc xác định nhƣ sau: + Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chƣa có thuế giá trị gia tăng.
Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhƣng chƣa có thuế giá trị gia tăng.