Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăng Chương 2: Thực trạng thực thi pháp luật quản lý thuế Giá trị gia tăng qua thực tiễn áp dụng tại Chi cục thuế huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Các giải pháp nâng cao thực thi pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăng qua thực tiễn áp dụng tại Chi cục thuế huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Một số lý luận cơ bản về quản lý thuế Giá trị gia tăng 1. Một số nhận thức về thuế Giá trị gia tăng Thuế GTGT là một sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế hiện hành của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Theo Luật thuế GTGT Việt Nam năm 2008: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thu hàng hóa, dịch vụ” [14, Điều 2].
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế thuế Doanh thu, quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế Giá trị gia tăng đó là Cộng hòa Pháp vào năm 1954. Ở nước ta Luật thuế GTGT được ban hành ngày 10/5/1997 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX và chính thức áp dụng từ ngày 01/01/1999, nhằm khắc phục nhược điểm của thuế Doanh thu là thuế trùng lắp thuế, nhiều mức thuế suất, hạn chế xuất khẩu để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và công tác quản lý thu thuế; Từ khi ban hành Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2003, 2005, 2008 và năm 2013 để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Thuế Gia trị gia tăng mang một số đặc điểm và vai trò cơ bản sau: Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thứ nhất, thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng HHDV chịu thuế GTGT. Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện ở việc người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Người mua hàng hóa, dịch vụ là người phải trả thuế GTGT thông quá giá mua của hàng hóa dịch vụ. Người bán hàng hóa dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT đã 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đươc người mua trả vào Ngân sách Nhà nước.Với quy định này và các quy định khác có liên quan đến đối tượng nộp thuế GTGT được ghi nhận tài các điều luật khác các đối tượng nộp thuế GTGT phải đáp ứng đủ điều kiện sau: Có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ thông thường thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc có hành vi nhập khẩu hàng hóa dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT; Có phần dịch vụ tăng thêm trên lãnh thổ Việt Nam. Việc xác định điều kiện cần và đủ cho đối tượng nộp thuế GTGT giúp cho cơ quan quản lý thu thuế GTGT và đối tượng sản xuất kinh doanh phân biệt trường hợp đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT với trường hợp phải nộp thực tế một số tiền thuế vào NSNN. Cùng với quy định về chủ thể nộp thuế GTGT, Pháp luật cũng quy định đối tượng không phải nộp thuế GTGT.
Những đối tượng này mặc dù đều có hoạt động kinh doanh, có phần giá trị tăng thêm từ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nhưng xuất phát từ những lý do, mục đích nhất định pháp luật quy định họ không phải nộp thuế. Thứ hai, thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Do đó phương pháp tính thuế GTGT dựa trên phương pháp khấu trừ cụ thể: Thuế Giá trị gia tăng được thu qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
Dựa trên đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giá trị đầu ra và phần giá trị đầu vào tương ứng. Pháp luật thuế giá trị gia tăng quy định hai phương pháp phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. Trong đó phương pháp khấu trừ được coi là phương pháp chủ yếu. Nội dung cơ bản của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế GTGT phải nộp được tính trên cơ sở số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào.
Thuế 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GTGT đầu ra là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể đã nộp thuế đã xác định và tịnh trọng giá bán cho người nhận hàng hóa dịch vụ. Phần thuế này được tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Thuế GTGT đầu vào xuất hiện ở khâu mua vào được tính trong tổng giá mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa dịch vụ. Tương tự số thuế đầu ra, số thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu.
Như vậy số thuế GTGT phát sinh ở các khâu được phản ánh rõ trên chứng từ hóa đơn. Bằng nghiệp vụ phát hành hóa đơn có thể là cơ sở đề xác định số thuế đầu ra cho chủ thể cung ứng hàng hóa dịch vụ; đồng thời làm căn cứ xác định số thuế đầu vào cho bên nhận hàng hóa, dịch vụ. Thứ ba, thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao. Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế và không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.
Thứ tư, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với HHDV xuất khẩu và đánh thuế đối với HHDV nhập khẩu. Vai trò của thuế Giá trị gia tăng Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vu chịu thuế GTGT. Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước.
Ở Việt Nam tỷ trọng thuế GTGT trong tổ số thu NSNN hàng năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 27%. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ. Khuyến khích xuất khẩu HHDV thông qua áp dụng thuế suất 0%. Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa dịch vụ không những không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá hàng hóa dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế.
Tóm lại: Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến; việc áp dụng thuế GTGT khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu trước đây là “thuế chồng lên thuế”; thuế GTGT có nhiều ưu điểm, tác dụng tích cực tới khuyến khích sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu cho NSNN. Khái niệm về quản lý thuế Giá trị gia tăng Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, chính vì tầm quan trọng và tính chất đặc biệt của thuế nên bất cứ nhà nước nào cũng cần tìm ra phương thức quản lý thuế sao có hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu và phát huy tối đa vai trò của thuế trong thực tiễn. Có thể thấy hoạt động quản lý xuất hiện từ khi có hoạt động chung của con người. Theo từ điển hán việt quản lý là phạm trù chỉ mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý thuế Thứ nhất, theo nghĩa rộng quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các Luật thuế, kiểm tra thuế và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế. Như vậy nội dung quản lý thuế theo nghĩa rộng bao gồm một số vấn đề chủ yếu sau: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ban hành hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thu, Xây dựng chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển hệ thống thuế; - Thanh kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế. - Áp dụng các biện pháp phòng chống, trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. - Tiếp nhận xem xét giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế; - Tổ chức thu thập xử lý cung cấp thông tin về đối tượng nộp thuế; - Ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thuế; - Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng, xây dựng hệ thống đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp.
Thứ hai, theo nghĩa hẹp quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, việc tổ chức quản lý điều hành quá trình thu nộp thuế bao gồm các hoạt động mang tính chất hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế là hoạt động chấp hành theo kế hoạch và trình tự nhất định được thực hiện bởi cơ quan quản lý thuế.