Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế giá trị gia tăng của chi cục thuế đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Can Lộc của chi Cục thuế khu vực thị xã Hồng Lĩnh-Can Lộc, tỉnh Hà tĩnh giai đoạn 2017-2019. Chương 3: Định hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà tĩnh của chi Cục thuế khu vực thị xã Hồng Lĩnh-Can Lộc đến năm 2025. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CHI CỤC THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.T ng qu n về thuế giá trị gi tăng 1.
Khái niệm và đặc trưng về thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thuế Giá trị gia tăng (Thuế GTGT) là loại hình thuế được áp dụng đã khá lâu trên thế giới và ph biến rộng rãi trên rất nhiều quốc gia khác nhau. Ở Việt Nam, Quốc hội khoá 9 đã thông qua Luật thuế Giá trị gia tăng ngày 10/05/1997 tại kỳ họp lần thứ 11 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-1999. Việc ban hành Luật thuế Giá trị gia tăng nhằm khắc phục những hạn chế của thuế doanh thu như tính trùng lắp, nhiều mức thuế suất, hạn chế xuất khẩu để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và công tác quản lý thu thuế. Kể từ khi Luật thuế giá trị gia tăng đi vào cuộc sống đến nay, để phù hợp với thực tiễn cũng như thông lệ quốc tế khi mà Việt Nam ngày càng hội nhập kinh tế thế giới, Quốc Hội đã sửa đ i b sung nhiều lần.
Về khái niệm, thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) có nhiều cách hiểu khác nhau, trong phạm vi của đề tài, tác giả xin trích dẫn một số khái niệm sau đây: Theo Điều 2, Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 03/06/2008, thì: Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào sự tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Điều này biểu hiện ở việc người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Người bán hàng hóa, dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT vào ngân sách nhà nước nhưng thực chất là nộp hộ người mua hàng hóa, dịch vụ khi mà thuế GTGT đã được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ.
7 Như vậy, thuế GTGT đánh trên phần giá trị mới phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông cho đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Giá trị gia tăng được xác định bằng chênh lệch giữa t ng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra với t ng trị giá hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế. Điều quan trọng là phải xác định được GTGT ở các giai đoạn SXKD khác nhau từ giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng thì việc tính toán số thuế GTGT giai đoạn đó mới chính xác và hợp lý. Đặc trưng thuế GTGT được nộp bởi doanh nghiệp vừa và nhỏ: - Là loại thuế có tính gián thu được biểu hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Người mua hàng hóa, dịch vụ là người phải trả thuế GTGT thông qua giá mua của hàng hóa, dịch vụ. - Thuế GTGT đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. - Là một loại có tính trung lập cao. Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế và không bị ảnh hưởng bởi quá trình t chức phân chia quá trình sản xuất kinh doanh.
- Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh th Việt Nam. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thứ nhất: Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, hạn chế thất thu. Thứ hai: Thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế.
Thứ ba: Thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vai trò này hình thành ngay trong quá trình t chức thực hiện luật thuế GTGT. T ng qu n về do nh nghiệp vừ và nhỏ 1. Khái niệm Do nh nghiệp: Theo quy định tại Luật doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 26/11/2014 đã đề cập đến một số khái niệm liên quan đến khu vực kinh tế hay doanh nghiệp ngoài quốc doanh, với một số nội dung cụ thể như sau:“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Tại Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ – CP ngày 11/03/2018 Doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 03 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô t ng nguồn vốn (T ng nguồn vốn tương đương t ng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (T ng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1. Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 9 1. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ có một số đặc điểm cơ bản sau: - Về ngành nghề kinh doanh: Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đa ngành nghề như sản xuất, xây dựng, chế biến, dịch vụ, thương mại, du lịch, vận tải, cơ khí, san lấp mặt bằng …… - Về quy mô sản xuất kinh doanh: Phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn huyện có quy mô sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn bên ngoài hạn chế chủ yếu huy động từ khoản vay ngân hàng, công nghệ sản xuất lạc hậu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chưa nhanh nhạy trong việc khai thác những lợi thế cạnh tranh để tạo dựng đặc điểm riêng biệt trên thị trường.
Các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu thấp, tỷ suất lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh. - Về trình độ quản lý: Hầu hết các doanh nghiệp hình thành từ các cơ sở sản xuất thủ công, hộ kinh doanh, mang tính chất gia đình nên trình độ quản lý còn thấp, thường gặp rủi ro trong kinh doanh. - Về ý thức chấp hành pháp luật: Còn tồn tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh không trung thực, tính tuân thủ pháp luật còn kém, nhất là trình độ của kế toán doanh nghiệp ít được đào tạo cơ bản, đặc biệt còn nhiều trường hợp lợi dụng danh nghĩa doanh nghiệp để trốn thuế, né tránh nộp thuế.Quản lý thu thuế giá trị gi tăng củ Chi cục thuế đối với doanh nghiệp vừ và nhỏ 1. Khái niệm về quản lý thu thuế GTGT của Chi cục thuế khu vực đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Quản lý thu thuế là một dạng quản lý hành chính nhà nước,"công tác quản lý thu thuế ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của Nhà nước và gắn chặt với quyền lực của Nhà nước.
Để có đủ nguồn lực tài chính duy trì bộ máy quyền lực của Nhà nước đòi hỏi Nhà nước phải tìm ra phương thức quản lý có hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu và phát huy vai trò của thuế trong thực tiễn."Giống như các hoạt động quản lý khác, quản lý thuế cũng phải thông qua công cụ luật pháp, chính sách để điều chỉnh 10 hành vi của các cá nhân, các t chức kinh tế. Quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ yêu cầu: - Đảm bảo theo dõi, quản lý người nộp thuế thực hiện các thủ tục hành chính thuế về khai thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ, đúng quy định. - Đảm bảo công chức thuế, cơ quan thuế thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật quản lý thuế, các luật thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành luật. - Đảm bảo kế hoạch thu NSNN một cách đầy đủ và kịp thời, nếu không thu đúng, thu đủ, kịp thời có thể dẫn đến cản trở quá trình chi tiêu công và ảnh hưởng đến việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
- Nâng cao mặt bằng nhận thức NNT và công chức quản lý thuế về ý thức chấp hành chính sách thuế. - Đảm bảo pháp luật thuế nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung được thực thi. Quản lý thu thuế GTGT là tất cả hoạt động quản lý của Nhà nước có liên quan đến thuế GTGT với mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế GTGT cho NSNN bao gồm hoạt động chính sau: + Lập dự toán thu thuế. + Truyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế.
+ Quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuê, nộp thuế, hoàn thuế. + Quản lý thông tin người nộp thuế. + Quản lý miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, nợ thuế, xóa nợ tiền thuế. + Công tác kiểm tra thuế.
+ Công tác xử lý vi phạm pháp luật về thuế. Mục đích, nguyên tắc và phương pháp quản lý thu thuế GTGT của Chi cục thuế khu vực đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ a. Mục đích của công tác quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế GTGT nói riêng là nhằm quản lý nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước thông 11 qua việc ban hành và t chức thực thi pháp luật, quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý thu thuế và của các t chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý thu thuế; đảm bảo tính công bằng, hiệu quả trong quản lý thu thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.