CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm, vai trò, đặc điểm của quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (VAT) trước đây được biết đến đầu tiên ở Pháp vào năm 1954 và sau đó được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, hiện nay có khoảng 130 quốc gia sử dụng thuế giá trị gia tăng. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu với mục đích đánh thuế vào người tiêu dùng cuối cùng, do đó nó đã góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách cho một quốc gia. Ở Việt Nam, luật thuế giá trị gia tăng được thông qua lần đầu tiên tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa 9, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 và được thay thế bởi luật số 38/2008/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2009.
Khái niệm về luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay được quy định theo Điều 2, Luật thuế GTGT số 38/2008/QH12 của Quốc Hội ngày 11 tháng 12 năm 2008 quy định: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Như vậy, đối tượng chịu thuế GTGT ở Việt Nam rất rộng, là những hàng hóa, dịch vụ được dùng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam; và mức đóng góp vào NSNN không phụ thuộc vào thu nhập của người tiêu dùng mà tùy thuộc vào mức tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đó.2 Khái niệm về quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp Quản lý thuế là hệ thống những biện pháp nghiệp vụ có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đảm bảo mục tiêu thu thuế đúng, đủ, kịp thời, công bằng dựa trên cơ sở các quy định pháp luật về thuế. Do đó, quản lý thuế là việc nhà nước tổ chức thực thi các chính sách pháp luật thuế qua các cơ quan chức năng nhằm tác động và điều hành đến tình hình thực hiện nghĩa vụ của NNT (từ đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Quản lý thuế là quá trình tác động của cơ quan quản lý thuế đến NNT nhằm đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của NNT.
Với quan điểm trên, quản lý thuế có thể hiểu là quản lý thu thuế và có thể hiểu dưới 3 góc độ: hoạch định chính sách, ban hành pháp luật thuế và tổ chức thu thuế vào NSNN. Quản lý thu thuế bao gồm các hoạt động tổ chức, phân công trách nhiệm điều hành, giám sát cho các bộ phận trong cơ quan thuế nhằm đảm bảo NNT tuân thủ tốt quyền và nghĩa vụ của mình với NSNN; xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận nhịp nhàng, hiệu quả để thực hiện được kế hoạch, mục tiêu đề ra cuối cùng là nhận biết những hạn chế để khắc phục trong công tác quản lý thu thuế cho những kỳ sau. Tóm lại, quản lý thu thuế GTGT đối với DN là một quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế GTGT, là quá trình tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế của cơ quan thuế, từ phân công chức năng, quyền hạn và trách nhiệm cho từng bộ phận, xác lập mối quan hệ hữu hiệu giữa các bộ phận trong việc thực thi Luật thuế GTGT, đối tượng là các DN nhằm đạt được kế hoạch, mục tiêu số thu đã đề ra trước sự biến động của nền kinh tế.2 Vai trò của quản lý thu thuế giá trị gia tăng 1.1 Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có vai trò rất lớn trong xã hội hiện nay: thuế GTGT là loại thuế gián thu, việc áp dụng thuế GTGT thay thuế doanh thu làm giảm tình trạng thuế chồng thuế, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Thuế GTGT là nguồn thu lớn của NSNN chiếm từ 50% đến 60% tổng số thu của thuế gián thu giai đoạn 2006-2019.
Cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế, đặc biệt Nhà nước khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ngày càng đa dạng, do đó số thu về thuế GTGT ngày càng cao. Thuế GTGT là một trong những công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước, có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế GTGT loại bỏ tính trùng lắp, do thuế GTGT chỉ tính vào giá trị tăng thêm, dịch vụ trong cả quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, thuế giá trị gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tăng ở khâu trước sẽ được tính khấu trừ (đủ điều kiện khấu trừ) ở khâu sau nên khuyến khích các tổ chức đầu tư, đổi mới trang thiết bị để hạ giá thành sản phẩm, từ đó phát triển sản xuất, kinh tế phù hợp với định hướng phát triển của nhà nước trong mỗi giai đoạn. Khuyến khích hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua việc áp dụng thuế suất 0%.
Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ có số thuế GTGT đầu ra bằng 0 và được khấu trừ toàn bộ số thuế đầu vào phục vụ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu từ đó giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm của DN nước ta trên thị trường quốc tế. Tăng cường công tác kế toán và thúc đẩy thực hiện việc sử dụng hóa đơn, chứng từ trong hoạt động giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ từ đó thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. DN cần tuân thủ đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ để đủ điều kiện cho việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính thuế GTGT đầu ra. Và thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong lưu thông hàng hóa, dịch vụ.
Thuế GTGT còn góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn trước sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế, góp phần mở rộng sự hợp tác kinh tế và thu hút đầu tư vốn từ nước ngoài.2 Vai trò của quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp Quản lý thu thuế GTGT đối với DN có vai trò: Quản lý thu thuế GTGT đối với DN nhằm đảo bảo tính tuân thủ của DN trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ với NSNN: về kê khai, tự tính, tự nộp. Quản lý thu thuế GTGT góp phần đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định cho NSNN: thu đúng, thu đủ, kịp thời, tránh thất thu NSNN vì không phải DN nào cũng tự giác nghiêm chỉnh chấp hành, tuân thủ nghĩa vụ thuế. Quản lý thu thuế GTGT có vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ phù hợp, tính khả thi của các văn bản, chính sách pháp luật về thuế GTGT từ đó đề xuất các văn bản hướng dẫn, bổ sung, sửa đổi hay thay thế để phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế. Quản lý thu thuế GTGT tạo điều kiện hình thành thói quen tuân thủ pháp luật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 của các DN trong hoạt động kinh tế- xã hội.
Hiện nay, vẫn còn nhiều DN tìm cách trốn tránh hay trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình do nhiều lý do. Do vậy cần có các quy trình quản lý phù hợp từng bộ phận để đôn đốc nhắc nhở DN, tạo thói quen tuân thủ pháp luật cho NNT. Từ đó tạo dựng môi trường kinh doanh ổn định, đảm bảo cạnh tranh trong các hoạt động kinh tế diễn ra lành mạnh. Chính sách thuế rõ ràng, bộ máy tổ chức vận hành tốt sẽ tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các DN cạnh tranh phát triển.3 Vai trò chính quyền địa phương cấp huyện trong quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp Việc quản lý thu thuế trên địa bàn cấp huyện, vai trò chính là cơ quan thuế, tuy nhiên không thể thiếu sự chỉ đạo của chính quyền địa phương trong quản lý thu thuế.
Cụ thể: - Chỉ đạo các cơ quan có liên quan tại địa phương phối hợp với cơ quan thuế lập dự toán thu ngân sách nhà nước và thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; - Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về thuế. - Xử lý vi phạm và giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm quyền. Như vậy, không chỉ cơ quan quản lý thuế các cấp mới có trách nhiệm trong việc quản lý thuế và các cơ quan ban ngành (UBND, HĐND) phải cùng đồng hành trong việc quản lý thuế được pháp luật quy định như quyết định nhiệm vụ thu ngân sách hằng năm và giám sát việc thực hiện pháp luật về thuế, yêu cầu và chỉ đạo các cơ quan có liên quan trong việc phối hợp với cơ quan thuế thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến pháp luật thuế và thực hiện các quyền hạn nhiệm vụ có liên quan và pháp luật có quy định.3 Đặc điểm của quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp 1.1 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng cuối cùng là người chịu thuế, các DN là người kê LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 khai, nộp thuế thay. Đối tượng chịu thuế GTGT là rất rộng: hầu như hàng hóa, dịch vụ sử dụng sản xuất, kinh doanh, lưu thông và tiêu dùng ở Việt Nam đều chịu thuế GTGT (trừ một số nhóm ngành nghề thiết yếu).
Thuế GTGT là loại thuế đánh vào giá trị tăng thêm ở tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đây là đặc điểm cho thấy thuế GTGT có tính ưu việt hơn so với các loại thuế gián thu khác và nó khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu trước đây là “Thuế chồng lên thuế”. Có thể nói, thuế GTGT có tính trung lập cao: Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, cũng không phân biệt người có thu nhập cao hay thấp, mà tiêu dùng số lượng hàng hóa dịch vụ nhiều hay ít, và thuế GTGT được người nộp thuế kê khai và nộp thay người tiêu dùng vào NSNN.