CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Tổng quan về thu ngân sách nhà nước cấp huyện 1. Khái niệm về ngân sách nhà nước Từ “ ngân sách” được lấy từ thuật ngữ “ budjet” một từ tiếng anh thời trung cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng. Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng như: đắp đê phòng chống lũ, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau.
Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó nảy sinh khái niệm NSNN. Trong thực tiễn, khái niệm NS thường để chỉ tổng thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là nhà nước thì được gọi là NSNN.
Từ điển Tiếng việt thông dụng định nghĩa: “Ngân sách là tổng số thu và số chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định.” Điều 4 điểm 14 của Luật ngân sách năm 2015 ghi rõ: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoản thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”. [Luật NSNN 2015] Theo Điều 6 Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2016 [NĐ 163/2016/NĐ-CP] , Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó: - Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; 6 - Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phường, thị trấn; - Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). Nguồn: Theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015.
Hệ thống Ngân sách Nhà nước 1. Thu NSNN và phân loại thu ngân sách nhà nước Thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thu NSNN bao gồm rất nhiều loại, ngoài các khoản thu chính từ thuế, phí, lệ phí; còn có các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Để cung cấp thông tin một cách có hệ thống, công khai, minh bạch, đảm bảo trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu cần quản lý của các đối tượng thì việc phân loại các khoản thu theo những tiêu thức nhất định là hết sức quan trọng.
Hiện nay, trong quản lý ngân sách thường sử dụng 2 cách phân loại thu ngân sách chính đó là: 7 Phân loại theo phạm vi phát sinh Căn cứ vào phạm vi phát sinh, các khoản thu NSNN được chia thành: Thu trong nước và thu ngoài nước. - Thu trong nước là các khoản thu ngân sách phát sinh tại Việt Nam bao gồm: Thu từ các loại thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao…Ngoài ra còn có các loại thu từ phí, lệ phí, tiền thu hồi vốn ngân sách, thu hồi tiền cho vay ( cả gốc và lãi), thu từ vốn góp của Nhà nước, thu sự nghiệp, thu tiền bán nhà và cho thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước… - Thu ngoài nước là các khoản thu phát sinh không tại Việt nam bao gồm: các khoản đóng góp tự nguyện, viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho chính phủ Việt Nam. Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thì các khoản vay nợ trong nước, ngoài nước như phát hành trái phiếu chính phủ, vay ODA trở thành nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách và đầu tư phát triển rất quan trọng. Qua việc phân loại các khoản thu ngân sách trên cho phép đánh giá được mức huy động các nguồn thu ở các khu vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế; cũng như tổng quan thu trong nước, ngoài nước.
Từ đó có chính sách, biện pháp khai thác các nguồn thu cho hợp lý ở các khu vực, cân đối giữa thu trong nước và ngoài nước. Phân loại theo nội dung kinh tế Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu NSNN ở nước ta bao gồm: - Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức, các nhân nộp theo quy định của pháp luật. Thuế: Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện: + Đối với kinh tế học, thuế được định nghĩa: Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước. + Với người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo 8 luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.
Trong các nội dung thu NSNN thì nguồn thu từ thuế chiếm chủ yếu và có tính bền vững cao do được trích từ một phần giá trị của hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là công cụ hữu hiệu của nhà nước để điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Phí và lệ phí: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công” [Luật QLT 38/2019/QH14]. “Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước” [Luật QLT 38/2019/QH14]. Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính chất đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà người dân phải trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp.
So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn. Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ mà nhà nước cung cấp. Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân. Phí là các khoản thu do nhà nước quy định để bù đắp một phần chi phí của NSNN đã dùng để đầu tư xây dựng, mua sắm, bảo dưỡng và quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia, tài trợ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng hoặc lợi ích công cộng không mang tính lợi nhuận.
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước theo quy định của pháp luật như: Tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các cơ sở kinh tế; Thu hồi tiền vay của nhà nước (cả gốc và lãi); Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước theo quy định của chính phủ. - Thu từ các hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu từ bán sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp như thu tiền bán sản phẩm sản xuất thử của các đơn vị nghiên cứu khoa 9 học, bán sách do trường tự in ấn… hay là các khoản chênh lệch giữa thu và chi của các đơn vị sự nghiệp hoạt động có thu. - Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước. - Các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và các đơn vị nhà nước.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm: Các khoản di sản nhà nước được hưởng; các khoản phạt, tịch thu; Thu hồi dự trữ nhà nước; Thu chênh lệch giá, phụ thu; Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; Thu chuyển nguồn NSNN từ ngân sách năm trước chuyển sang; Qua cách phân loại này giúp cho việc xem xét từng nội dung thu theo tính chất và hình thức động viên vào ngân sách đánh giá tính cân đối, bền vững, hợp lý về cơ cấu của các nguồn thu. Trên cơ sở đó giúp cho việc hoạch định chính sách cũng như tổ chức điều hành ngân sách phù hợp với các mục tiêu mà nhà nước theo đuổi trong từng thời kỳ. Ngoài ra, trong việc quản lý NSNN, trong các biểu mẫu về thu ngân sách nhà nước người ta thường phân loại thu ngân sách theo nội dung kinh tế thành các nhóm lớn là: - Thu cân đối NSNN: bao gồm các khoản thu nội địa như: các loại thuế, lệ phí, thu về nhà đất thuộc sở hữu nhà nước; thu từ dầu thô; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu; thu huy động quỹ dự trữ tài chính; thu kết dư ngân sách năm trước; thu chuyển nguồn năm trước; thu viện trợ không hoàn lại; thu huy động đầu tư của cấp tỉnh xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định của luật ngân sách. - Thu vay để cân đối ngân sách trung ương bao gồm vay trong nước dưới các hình thức trái phiếu chính phủ, công trái; vay nước ngoài.
- Thu để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách ví dụ: các khoản phí; lệ phí như học phí, viện phí.; thu phạt an toàn giao thông; các khoản huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các khoản phụ thu, khác. 10 - Thu chuyển giao giữa các cấp ngân sách bao gồm số bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên.