Chương 1: Cơ sở lý luận về BHXH và quản lý thu BHXH bắt buộc Chương 2: Thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Quảng Xương giai đoạn 2018 — 2022 Chương 3: Một số giải pháp nhăm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Quảng Xương 3 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE BAO HIEM XA HOI VA QUAN LY THU BAO HIEM XA HOI BAT BUỘC 1. Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội 1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là một hệ thống được thành lập bởi chính phủ đề bảo vệ các công dân khỏi những rủi ro trong cuộc sống, bao gồm mắt việc làm, bệnh tật, tai nạn và lão hóa. Hệ thống bảo hiểm xã hội được hình thành từ các hoạt động của các tô chức từ thiện và các nô lực của chính phủ.
Sự ra đời của bảo hiểm xã hội có nguồn gốc từ thế kỷ 19, khi các tổ chức từ thiện bắt đầu cung cấp trợ cấp cho những người bị tàn tật và người già không có ai chăm sóc. Điều này dẫn đến sự ra đời của các chương trình chính phủ nhằm bảo vệ các công dân, bao gồm các chương trình chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm thất nghiệp. Tại Châu Âu, các chính sách bảo hiểm xã hội được phô biến từ sau Thế chiến II nhằm hỗ trợ sự phục hồi và phát triển kinh tế của khu vực. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống bảo hiểm xã hội.
Các chính sách bảo hiểm xã hội đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của nhiều người và tạo ra một môi trường kinh doanh ôn định và an toàn hơn. Tuy nhiên, hệ thống bảo hiểm xã hội cũng đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự gia tăng chỉ phí và sự cân băng giữa các quyên lợi và trách nhiệm của chính phủ và các công dân. Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người và được xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã nghỉ: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH”.
Ngày 4/6/1952, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã kí công ước Giơnevơ (102) về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khăng định tất yếu các nước phải tiến hành BHXH cho người lao động và gia đình họ. Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) pham vi cua BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau: - Chăm sóc y tế - Trợ cấp ốm đau - Trợ cấp thất nghiệp - Trợ cấp tuôi già - Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp - Trợ cấp gia đình - Trợ cấp thai sản - Trợ cấp tàn tật - Trợ cấp tử tuất Nhưng trên thực tế không phải nước nào cũng thực hiện được toàn bộ 9 chế độ trên và không phải nước nào cũng có phạm vi, đối tượng, nguồn hình thành quỹ giống nhau. Có nghĩa là việc thực hiện BHXH ở những nước khác nhau thì khác nhau, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước và và hoàn cảnh cụ thê của mỗi giai đoạn phát triển mà mỗi nước có hình thức áp dụng khác nhau cho phù hợp. Trên thế giới có 35 nước thực hiện được 9 chế độ, 37 nước chưa thực hiện được chế độ thứ 3 (trợ cấp thất nghiệp), 67 nước chưa thực hiện được chế độ thứ 3 và thứ 6 (trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình).
Khái niệm, bản chút và chức năng, vai trò của Bảo hiêm xã hội Khái niệm của Bảo hiêm xã hội Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất. Bởi lẽ, BHXH được tiêp cận từ nhiêu góc độ khác nhau thì các quan điêm đưa ra cũng khác nhau: Nếu tiếp cận từ mục đích ASXH và hình thức tô chức thực hiện thì có khái niệm chung nhất về BHXH như sau: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mắt khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Nhưng nếu tiếp cận từ góc độ khác, BHXH lại có thể được khái niệm hẹp hơn: - Từ góc độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bao vé NLD, su dung tién đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mat thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết. - Từ góc độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
5 - Từ góc độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Bên cạnh đó, Luật này cũng quy định “ BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tô chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ gặp phải biến có, rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mắt việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và những người ruột thịt của NLĐ trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Bản chất của Bảo hiểm xã hội Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội; là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát triển của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nên kinh tế. Thật vậy, một nền kinh tế chậm phát triển, đời sông người lao động thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được.
Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú. Thực chất, BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH. Như vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập.
Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thanh viên khi phát 6 sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, TNLĐ và BNN, già yếu, chết. Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang. Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân NLĐÐ theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và không làm việc). Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khoẻ mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ cho người sinh đẻ; g1ữa người có thu nhập cao cho người có thu nhập thấp.
Có thể thấy, BHXH đã góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho NLĐ và gia đình họ, BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) để thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội. Bảo hiểm xã hội vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội. và mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của NLĐ và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bat trắc, rủi ro xã hội. Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” cua BHXH, NLD chi phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra.
Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù số íf”. Tuy nhiên, tính kinh tế và xã hội của BHXH không tách rời nhau mà đan xen lẫn nhau. Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho NLĐ và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội là đề cập đến tính kinh tế của BHXH. Cơ sở đề phát sinh BHXH chính là quan hệ lao động thể hiện thông qua mối quan hệ ba bên gồm bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong nền kinh tế thị trường, bên tham gia BHXH có thé đồng thời là bên được BHXH. Đối với NLĐ độc lập. họ vừa là người tham gia BHXH vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họ tham gia đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chính mình.
Điều kiện được hưởng BHXH là NLÐ gặp phải những rủi ro, những biến cố mang tính chất ngẫu nhiên, trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.; hoặc cũng có thê là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản, tử tuất.