Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc là hoạt động nghiệp vụ của Nhà nước, vận hành theo nguyên tắc phi lợi nhuận nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung phục vụ việc chi trả các chế độ và bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động. Hiệu quả quản lý thu tác động trực tiếp đến việc cân đối thu - chi quỹ, ngăn ngừa thất thoát nguồn thu và bảo vệ quyền lợi thụ hưởng của người tham gia.
Về mặt thực tiễn, huyện Ngọc Lặc là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa, có diện tích tự nhiên 490,92 km², địa hình phức tạp với đồi núi chiếm 40,1% diện tích. Địa bàn huyện gồm 21 đơn vị hành chính cấp xã (thị trấn Ngọc Lặc và 20 xã), dân số đạt gần 139.000 người, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động có hơn 45.000 người. Thành phần dân tộc tại địa phương gồm ba dân tộc Mường, Kinh và Dao, trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm 70% tổng dân số. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại huyện vẫn ở mức cao. Mặc dù nằm ở vị trí cửa ngõ giao thương với tuyến đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 15A chạy qua, tiếp giáp Cảng hàng không Thọ Xuân và gần Khu công nông nghiệp công nghệ cao Lam Sơn - Sao Vàng, việc khai thác tiềm năng của một huyện miền núi để mở rộng diện bao phủ BHXH còn gặp nhiều trở ngại. Tình trạng biến động lao động, quan hệ lao động phức tạp trong nền kinh tế thị trường, cùng với hiện tượng trốn đóng, nợ đọng BHXH tại các doanh nghiệp đặt ra yêu cầu phải đánh giá toàn diện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn.
Khóa luận xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu chung: Làm rõ vai trò của công tác quản lý thu đối với hoạt động thu BHXH bắt buộc; đánh giá có hệ thống thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Ngọc Lặc giai đoạn 2017–2021; trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này tại địa phương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về BHXH, thu BHXH, quy trình và nội dung quản lý thu BHXH bắt buộc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Ngọc Lặc từ năm 2017 đến năm 2021 qua các chỉ tiêu: quản lý đơn vị sử dụng lao động, quản lý người lao động, quản lý quỹ tiền lương, mức đóng, phương thức đóng, kết quả thu và tình hình nợ đọng.
- Chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại cùng nguyên nhân chủ quan và khách quan.
- Đề xuất các giải pháp nghiệp vụ và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Ngọc Lặc. Phạm vi nghiên cứu về không gian là địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; phạm vi về thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021; phạm vi nội dung tập trung vào các vấn đề thu, nộp BHXH bắt buộc giữa người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH huyện Ngọc Lặc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận BHXH dưới các góc độ: chính sách xã hội, công cụ quản lý của Nhà nước, quỹ tài chính độc lập tập trung, và biện pháp bảo đảm thay thế hoặc bù đắp thu nhập theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng như Luật BHXH. Về công tác quản lý thu, đề tài vận dụng các nguyên tắc quản lý tài chính công bao gồm: thu đúng - thu đủ - thu kịp thời; tập trung, thống nhất, công bằng và công khai; an toàn, hiệu quả.
Hệ thống văn bản pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật được tác giả trích dẫn làm cơ sở đối chiếu bao gồm:
- Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006.
- Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc.
- Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
- Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 và Quyết định số 505/QĐ-BHXH ngày 27/3/2020 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT.
- Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 áp dụng trong cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan BHXH địa phương.
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong khóa luận gồm:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của ngành BHXH.
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích - tổng hợp số liệu để theo dõi diễn biến qua các năm.
- Phương pháp so sánh chuỗi thời gian (giai đoạn 2017–2021) và so sánh cơ cấu theo từng khối đơn vị tham gia (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hành chính sự nghiệp, hợp tác xã, xã/thị trấn, hộ cá thể).
Nguồn dữ liệu của công trình được trích xuất từ các Báo cáo tổng hợp thu BHXH bắt buộc định kỳ hàng tháng, quý, năm (theo biểu mẫu B02-TS, C83-TS, C69-TS, mẫu 13-TBH, mẫu 07-TBH) của BHXH huyện Ngọc Lặc; dữ liệu từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư); cùng dữ liệu quản lý điện tử trích xuất từ phần mềm Thu - Sổ thẻ (TST), phần mềm Kế toán (TCKT) và phần mềm quản lý thu (SMS) của ngành BHXH.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về công tác quản lý thu BHXH
Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận về nghiệp vụ thu và quản lý thu BHXH. Tác giả phân tích cấu trúc của công tác quản lý thu qua bốn trụ cột chính:
- Phân cấp quản lý thu: BHXH Việt Nam chỉ đạo, kiểm tra và xác định mức lãi suất bình quân của hoạt động đầu tư quỹ; BHXH cấp tỉnh phân cấp quản lý thu, thẩm định số liệu thu định kỳ; BHXH cấp huyện trực tiếp hướng dẫn, tổ chức thu và cấp sổ BHXH cho các đơn vị, người lao động thuộc phạm vi địa bàn.
- Quy trình lập và giao kế hoạch thu: Trước ngày 10/10 hằng năm, người sử dụng lao động đối chiếu số lao động, quỹ tiền lương; trước ngày 05/11, BHXH huyện lập hai bản kế hoạch thu năm sau (mẫu số 13-TBH) gửi BHXH tỉnh; trước ngày 15/11, BHXH tỉnh tổng hợp gửi BHXH Việt Nam; trước ngày 10/01 năm sau, BHXH Việt Nam giao dự toán thu và BHXH tỉnh phân bổ cho cấp huyện trước ngày 20/01.
- Cơ chế quản lý tiền thu: Toàn bộ số tiền thu BHXH bắt buộc chuyển vào tài khoản chuyên thu mở tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại, nghiêm cấm sử dụng tiền thu vào mục đích khác. Đơn vị sử dụng lao động giữ lại 2% tiền đóng vào quỹ ốm đau - thai sản để chi trả kịp thời và quyết toán định kỳ mỗi quý.
- Quản lý hồ sơ, tài liệu và báo cáo thu: Mở sổ theo dõi mẫu số 07-TBH, lập báo cáo tháng (trước ngày 03 tháng sau), báo cáo quý (trước ngày 10 tháng đầu quý sau), báo cáo năm (trước ngày 10/01 năm sau), lưu trữ dữ liệu thông qua hệ thống mã số đơn vị và mã số định danh cá nhân trên phần mềm chuyên ngành.
Chương này cũng phân tích 7 nhóm nhân tố tác động đến quản lý thu BHXH: chính sách tiền lương; hệ thống pháp luật; nhận thức của người tham gia; tốc độ tăng trưởng kinh tế; công tác tuyên truyền; hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm; trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thu.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2017 – 2021
Chương 2 mô tả chi tiết tổ chức bộ máy và phân tích dữ liệu thực tế tại BHXH huyện Ngọc Lặc. Đơn vị được thành lập ngày 15/6/1995 theo Quyết định số 138 QĐ/TC-CB của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, có trụ sở tại Phố Lê Lai, thị trấn Ngọc Lặc (chuyển sang trụ sở mới từ tháng 01/2020). Cơ cấu nhân sự gồm 14 cán bộ, viên chức và người lao động (1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc, 9 cán bộ nghiệp vụ và 2 lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP). Bộ phận thu gồm 4 cán bộ phụ trách các khối đối tượng. Trình độ chuyên môn của đội ngũ gồm: 1 sau đại học, 12 đại học và 1 trung cấp; 100% cán bộ là đảng viên (14 đồng chí).
Về số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc, tổng số đơn vị quản lý tăng từ 215 đơn vị (năm 2017) lên 224 đơn vị (năm 2021), tương ứng mức tăng 4,18%. Doanh nghiệp nhà nước giảm từ 1 đơn vị (năm 2017, chiếm 0,46%) xuống 0 đơn vị từ năm 2019 do chủ trương cổ phần hóa. Đến năm 2021, cơ cấu đơn vị tham gia gồm: 47 doanh nghiệp ngoài quốc doanh; 117 đơn vị hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể; 8 hợp tác xã dịch vụ; 21 đơn vị xã, thị trấn; 31 hộ sản xuất kinh doanh cá thể.
Về số người lao động tham gia BHXH bắt buộc, dữ liệu cho thấy sự gia tăng liên tục qua các năm:
| Loại hình đơn vị |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
| Doanh nghiệp nhà nước |
89 |
89 |
0 |
0 |
0 |
| Doanh nghiệp ngoài quốc doanh |
2.857 |
4.473 |
4.920 |
5.166 |
5.425 |
| HCSN, Đảng, đoàn thể |
3.182 |
3.116 |
3.427 |
3.599 |
3.779 |
| Hợp tác xã dịch vụ |
22 |
25 |
28 |
29 |
30 |
| Xã, phường, thị trấn |
458 |
460 |
506 |
531 |
558 |
| Hộ sản xuất kinh doanh cá thể |
68 |
70 |
77 |
81 |
85 |
| Tổng số lao động đã tham gia |
6.676 |
8.233 |
8.958 |
9.406 |
9.877 |
| Tổng số lao động thuộc diện phải tham gia |
6.832 |
8.401 |
9.143 |
9.719 |
10.244 |
| Tỷ lệ tham gia thực tế |
97,71% |
98,00% |
97,98% |
96,78% |
96,42% |
Số người tham gia tăng từ 6.676 người (năm 2017) lên 9.877 người (năm 2021), tăng 47,94%. Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng trưởng mạnh nhất (từ 2.857 người lên 5.425 người, tăng 89,88% so với năm 2017), chiếm tỷ trọng 54,93% tổng số lao động tham gia vào năm 2021. Động lực chính là Công ty May Việt Pan Pacific Thanh Hóa đi vào vận hành từ năm 2016. Khối xã, thị trấn tăng từ 458 lên 558 người nhờ bổ sung chức danh theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP và đưa đối tượng người hoạt động không chuyên trách cấp xã vào diện tham gia BHXH bắt buộc từ ngày 01/01/2016 theo Luật BHXH năm 2014.
Về căn cứ đóng, tổng quỹ tiền lương trích nộp tăng từ 313.194 triệu đồng (năm 2017) lên 347.993 triệu đồng (năm 2018), 382.793 triệu đồng (năm 2019), 401.932 triệu đồng (năm 2020) và vượt 414.000 triệu đồng (năm 2021). Mức lương cơ sở điều chỉnh tăng theo lộ trình: 1.300.000 đồng/tháng (năm 2017) lên 1.390.000 đồng/tháng (tháng 7/2018) và 1.490.000 đồng/tháng (tháng 7/2019).
Về mức đóng, cơ quan áp dụng tỷ lệ 32% quỹ lương theo Quyết định 595/QĐ-BHXH (doanh nghiệp đóng 21,5%, người lao động đóng 10,5%), phân bổ gồm: hưu trí - tử tuất 22%; ốm đau - thai sản 3% (đơn vị giữ lại 2%); tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp 0,5%; bảo hiểm y tế 4,5%; bảo hiểm thất nghiệp 2%.
Về kết quả thu, đơn vị luôn vượt kế hoạch được BHXH tỉnh giao hằng năm:
| Chỉ tiêu |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
| Kế hoạch giao (triệu đồng) |
80.107 |
91.208 |
106.312 |
116.574 |
120.249 |
| Kết quả thu (triệu đồng) |
81.468 |
92.394 |
107.490 |
117.037 |
120.490 |
| Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch |
101,7% |
101,3% |
101,1% |
100,4% |
100,2% |
Năm 2017, số thu của khối HCSN, Đảng, đoàn thể đạt 43.431 triệu đồng; khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 32.953 triệu đồng; xã/thị trấn đạt 3.368 triệu đồng; hộ kinh doanh cá thể đạt 536 triệu đồng; hợp tác xã đạt 206 triệu đồng; doanh nghiệp nhà nước đạt 985 triệu đồng. Đến năm 2021, số thu của khối hợp tác xã tăng lên 936 triệu đồng, hộ kinh doanh cá thể tăng lên 1.490 triệu đồng.
Tình hình nợ đọng BHXH diễn biến phức tạp: tổng số nợ năm 2017 là 937 triệu đồng, năm 2018 là 1.052 triệu đồng, năm 2019 tăng lên 2.141 triệu đồng, năm 2020 giảm về 1.479 triệu đồng và tiếp tục duy trì sang năm 2021. Nguyên nhân nợ đọng do mức lãi suất chậm nộp chỉ ở mức 8%/năm (khoảng 0,67%/tháng), thấp hơn lãi suất vay vốn kinh doanh nên một số doanh nghiệp cố tình chậm nộp để chiếm dụng vốn; một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, thời vụ làm ăn thua lỗ; người lao động thiếu chủ động trong việc đòi hỏi người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ đóng nộp.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, tác giả đưa ra định hướng kế hoạch và 8 nhóm giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ thu:
- Tăng cường phối hợp liên ngành: Phối hợp định kỳ 6 tháng một lần với cơ quan quản lý lao động địa phương và cơ quan Thuế để rà soát mã số thuế, số liệu quyết toán chi phí tiền lương, phát hiện các đơn vị thành lập mới hoặc bỏ sót lao động.
- Quản lý chặt chẽ quỹ tiền lương đóng BHXH: Thường xuyên thanh tra, đối chiếu bảng lương thực tế và bảng lương khai báo đóng BHXH nhằm chấm dứt tình trạng khai giảm mức lương hoặc chỉ đóng cho lao động thâm niên.
- Đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền: Chuyển đổi phương thức tuyên truyền phù hợp với đặc thù đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương (người Mường chiếm 70%), làm rõ quyền lợi ngắn hạn và dài hạn của người tham gia.
- Cải cách thủ tục hành chính: Triển khai giao dịch hồ sơ điện tử, áp dụng phần mềm một cửa điện tử liên thông, duy trì việc luân chuyển hồ sơ qua hệ thống bưu chính công ích và vận hành theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015.
- Hiện đại hóa hệ thống thông tin thu: Nâng cấp, khai thác đồng bộ các phần mềm nghiệp vụ chuyên ngành gồm phần mềm thu SMS, phần mềm TST và phần mềm TCKT để quản lý dữ liệu tập trung.
- Giải quyết dứt điểm nợ đọng BHXH: Cán bộ chuyên quản thông báo nợ hằng tháng, tính lãi phạt theo quy định, lập biên bản làm việc trực tiếp tại đơn vị, công khai danh sách đơn vị chây ỳ nợ trên các phương tiện truyền thông địa phương.
- Đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thu: Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng phân tích dữ liệu, bám sát địa bàn và nghiệp vụ kiểm tra cho 4 cán bộ làm công tác thu.
- Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm: Nâng cao hiệu lực các đoàn kiểm tra liên ngành, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật đối với các hành vi trốn đóng kéo dài.
Đồng thời, khóa luận xây dựng các kiến nghị theo 3 cấp:
- Đối với các ban ngành liên quan (Thuế, Lao động, Công an): Tăng cường trao đổi thông tin quản lý doanh nghiệp, phối hợp điều tra các trường hợp chiếm dụng tiền đóng BHXH của người lao động.
- Đối với UBND huyện Ngọc Lặc: Chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn và UBND cấp xã phối hợp chặt chẽ với cơ quan BHXH; đưa chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của huyện.
- Đối với BHXH Việt Nam: Tiếp tục đơn giản hóa biểu mẫu quản lý thu; hoàn thiện phần mềm nghiệp vụ dùng chung; đề xuất Chính phủ tăng mức lãi suất chậm đóng và tăng chế tài xử phạt hành chính nhằm nâng cao tính răn đe.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận ghi nhận các kết quả cụ thể về mặt thực tiễn tại BHXH huyện Ngọc Lặc:
- Tăng trưởng nguồn thu: Số thu BHXH bắt buộc tăng từ 81.468 triệu đồng (năm 2017) lên 120.490 triệu đồng (năm 2021), liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch tỉnh giao (đạt từ 100,2% đến 101,7%).
- Mở rộng diện bao phủ: Số người tham gia BHXH bắt buộc tăng từ 6.676 người lên 9.877 người (tăng 47,94%), trong đó khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (tăng 89,88%).
- Chuẩn hóa quy trình: Toàn bộ nguồn tiền thu được quản lý thông qua tài khoản chuyên thu tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng thương mại, quy định tiền mặt thu trong ngày phải nộp vào tài khoản trước 16h; ứng dụng phần mềm SMS, TST, TCKT thay thế hoàn toàn tính toán thủ công.
- Đào tạo nguồn nhân lực: Đã bồi dưỡng được 8 lượt cán bộ quản lý thu có năng lực phụ trách chuyên sâu theo từng khối đơn vị.
Đóng góp của công trình thể hiện ở việc hệ thống hóa toàn diện bộ số liệu thứ cấp thực tế trong chuỗi thời gian 5 năm (2017–2021) tại một huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu chỉ rõ các đặc trưng cơ cấu chuyển dịch lao động địa phương (tỷ trọng lao động khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh vượt khối hành chính sự nghiệp từ năm 2018), nhận diện nguyên nhân nợ đọng gắn với cơ chế lãi phạt chậm đóng 8%/năm, và đưa ra khung giải pháp phối hợp liên ngành dựa trên cơ sở pháp lý và điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Ngọc Lặc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra các hạn chế thực tế trong công tác quản lý tại địa phương:
- Việc quán triệt chính sách tại một số cơ sở còn mang tính hình thức, chưa tiếp cận sâu rộng đến các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ.
- Công tác phát triển đối tượng chưa tương xứng với tiềm năng của hơn 45.000 người trong độ tuổi lao động của huyện; số lượng hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể tham gia còn chiếm tỷ lệ rất thấp (8 hợp tác xã và 31 hộ cá thể vào năm 2021).
- Chế tài xử lý vi phạm hành chính còn nhẹ, mức lãi chậm đóng thấp chưa đủ sức răn đe các đơn vị cố tình nợ đọng; hoạt động kiểm tra liên ngành hiệu quả chưa cao.
- Điều kiện kinh tế - xã hội miền núi gây khó khăn trong việc thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư để tạo việc làm bền vững.
- Về phạm vi nghiên cứu: Khóa luận chỉ khai thác nguồn dữ liệu thống kê thứ cấp do cơ quan BHXH huyện Ngọc Lặc quản lý, chưa tiến hành điều tra khảo sát xã hội học đối với người lao động và chủ sử dụng lao động trên địa bàn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát định lượng về mức độ tuân thủ chính sách của các khối doanh nghiệp vừa và nhỏ tại khu vực miền núi; nghiên cứu mô hình tích hợp dữ liệu thuế - lao động - BHXH cấp huyện theo Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư; hoặc đánh giá tác động của các chính sách thu hút đầu tư tại vùng phụ cận (Khu kinh tế Lam Sơn - Sao Vàng) đến thị trường lao động và nguồn thu BHXH trên địa bàn huyện Ngọc Lặc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế bảo hiểm, Quản lý công, Tài chính - Ngân hàng, Luật kinh tế đang thực hiện chuyên đề, khóa luận tốt nghiệp hoặc nghiên cứu khoa học về quản lý quỹ bảo hiểm và an sinh xã hội.
- Cán bộ quản lý thu tại cơ quan BHXH các huyện miền núi có điều kiện tự nhiên, dân số và cơ cấu lao động tương đồng với huyện Ngọc Lặc.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:
- Quy trình phân cấp quản lý thu, phương pháp lập kế hoạch thu theo mẫu số 13-TBH và quản lý dòng tiền qua tài khoản chuyên thu Kho bạc/Ngân hàng.
- Phương pháp phân tích, đối chiếu biến động giữa quỹ tiền lương tham gia BHXH với việc điều chỉnh mức lương cơ sở và chính sách tiền lương tối thiểu.
- Bảng số liệu chi tiết 5 năm về cơ cấu đối tượng, kết quả thu và số liệu nợ đọng, phục vụ việc đối sánh dữ liệu thực tiễn giữa các địa phương cấp huyện.
Câu hỏi thường gặp
1. Bộ máy quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội huyện Ngọc Lặc được phân công và tổ chức như thế nào trong giai đoạn 2017–2021?
Toàn cơ quan BHXH huyện Ngọc Lặc có 14 cán bộ, viên chức và người lao động. Bộ phận thu gồm 4 cán bộ chuyên trách, được phân công phụ trách theo từng khối đơn vị sử dụng lao động (khối hành chính sự nghiệp, khối doanh nghiệp, khối xã/thị trấn, hợp tác xã và hộ kinh doanh). Cán bộ thu chịu sự chỉ đạo trực tiếp của 1 Phó Giám đốc phụ trách công tác thu, sử dụng phần mềm SMS và TST để quản lý đối tượng và đôn đốc các khoản nộp.
2. Tỷ lệ trích đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH áp dụng tại đơn vị được phân bổ cụ thể ra sao?
Tổng tỷ lệ đóng bảo hiểm bắt buộc là 32% tính trên quỹ tiền lương tháng làm căn cứ đóng. Trong đó, người sử dụng lao động đóng 21,5% (gồm: 14% hưu trí - tử tuất; 3% ốm đau - thai sản, được giữ lại 2% chi trả tại chỗ; 0,5% tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; 3% bảo hiểm y tế; 1% bảo hiểm thất nghiệp). Người lao động đóng 10,5% (gồm: 8% hưu trí - tử tuất; 1,5% bảo hiểm y tế; 1% bảo hiểm thất nghiệp).
3. Yếu tố nào thúc đẩy số lượng người lao động tham gia BHXH bắt buộc ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện tăng mạnh từ năm 2017 đến năm 2018?
Số lao động khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 2.857 người (năm 2017) lên 4.473 người (năm 2018), tăng 1.616 người (tăng 56,56%). Nguyên nhân trực tiếp là do Công ty May Việt Pan Pacific Thanh Hóa đi vào hoạt động trên địa bàn từ năm 2016, tuyển dụng lượng lớn lao động và thực hiện đăng ký tham gia BHXH bắt buộc tập trung trong giai đoạn 2017–2018.
4. Tại sao doanh nghiệp nhà nước không còn xuất hiện trong số liệu quản lý thu của BHXH huyện Ngọc Lặc từ năm 2019?
Năm 2017 và 2018, trên địa bàn huyện có 1 doanh nghiệp nhà nước tham gia BHXH với 89 người lao động, số thu nộp đạt 985 triệu đồng (2017) và 1.094 triệu đồng (2018). Từ năm 2019, thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ nhằm giảm tải gánh nặng cho ngân sách, doanh nghiệp này đã hoàn thành chuyển đổi mô hình sở hữu, dẫn đến việc số lượng đơn vị và số lao động thuộc khối doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn huyện giảm về 0.
5. Tình trạng nợ đọng BHXH bắt buộc tại huyện Ngọc Lặc trong giai đoạn nghiên cứu xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu nào?
Tình trạng nợ đọng (đạt đỉnh 2.141 triệu đồng năm 2019 và ở mức 1.479 triệu đồng năm 2020) bắt nguồn từ: mức lãi suất phạt nợ chậm đóng theo quy định còn thấp (8%/năm, tương đương 0,67%/tháng) khiến doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt để chiếm dụng vốn; một số doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã sản xuất theo mùa vụ gặp khó khăn tài chính; người sử dụng lao động cố tình trốn đóng hoặc trích trừ lương của người lao động nhưng không nộp cho cơ quan BHXH; người lao động còn thiếu hiểu biết pháp luật nên chưa chủ động giám sát nghĩa vụ đóng nộp của chủ sử dụng lao động.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Lan Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Ngọc Lặc giai đoạn 2017–2021. Mặc dù đóng trên địa bàn huyện miền núi có nhiều khó khăn đặc thù, đơn vị đã tổ chức thực hiện tốt công tác thu, liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao và mở rộng đáng kể số người tham gia ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Công trình đã nhận diện chuẩn xác các bất cập về nợ đọng, trốn đóng và mức lãi chậm nộp thấp, từ đó đề xuất hệ thống 8 giải pháp nghiệp vụ và các kiến nghị liên ngành có tính ứng dụng thực tiễn cao cho địa phương.