CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội Tại Khoản 1, Điều 3, Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [22].
Từ khái niệm trên có thể rút ra bản chất của BHXH như sau: Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Hay nói cách khác, BHXH tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH. Dưới góc độ xã hội, BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất. Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định trật tự xã hội.
Như vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia. Khái niệm về bảo hiểm xã hội bắt buộc Theo Luật BHXH năm 2014 quy định: “BHXHBB là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia”. BHXHBB được áp dụng cho những đối tượng nhất định theo quy định của pháp luật. Trong đó người tham gia BHXHBB sẽ phải tuân thủ các quy định chung về mức đóng, phương thức và thời gian đóng để được hưởng các chế độ BHXH… theo quy định của pháp luật [22].
9 Như vậy, BHXHBB là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ bắt buộc phải tham gia. BHXHBB là một hình thức đảm bảo về thu nhập cho NLĐ (và một số trường hợp là thành viên gia đình) trong những trường hợp rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, chết… Việc đảm bảo này được thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ phải tham gia đóng góp của các đối tượng nhất định nhằm tạo lập nguồn chi trả. Nói cách khác, các đối tượng không có quyền lựa chọn có tham gia hay không tham gia mà họ phải tham gia hình thức BHXH này khi thuộc các trường hợp pháp luật đã quy định. Tính bắt buộc là một trong những điểm đặc thù của loại hình BHXH này.
Đặc điểm bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXHBB được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH. NSDLĐ và NLĐ có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH. NLĐ và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định.
Đó chính là mối quan hệ của bên tham gia BHXH. Đối với bất kỳ quốc gia nào, BHXHBB luôn là trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của NLĐ, của cả cộng đồng. BHXH là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động.
Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với NLĐ tham gia và hưởng các chế độ BHXH. Sự tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của xã hội loài người nói chung và từng nước nói riêng; Việc vận dụng và thực hiện các chế độ BHXH do tổ chức quốc tế về lao động quy 10 định hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội từng nước, để vừa ổn định đời sống của NLĐ, vừa ổn định phát triển KT - XH của đất nước. NLĐ được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế. Thông thường, mức đóng góp và hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền công) của NLĐ.
Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của NLĐ. Bản chất và vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Bản chất của bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Bản chất BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây : Một là, BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa và mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển.
Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Hai là, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với mong muốn chủ quan của con người như: Ốm đau, tai nạn lai động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản. Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
Ba là, phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Bốn là, mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc Vai trò của BHXHBB được xem xét trên 3 gốc độ: đối với NLĐ; đối với NSDLĐ và đối với xã hội.
* Đối với NLĐ BHXH góp phần trợ giúp NLĐ gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, thất nghiệp. sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu, sớm có việc làm trở lại. Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ có việc làm sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỷ dự phòng. Quỹ này hỗ trợ NLĐ khi ốm đau, bệnh tật, tai nạn, sinh sản, chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già không còn khả năng lao động để duy trì cuộc sống.
BHXH góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động. Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ tham gia đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng. Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi sẽ có nguồn thu ổn định, giúp trang trải cuộc sống. * Đối với người SDLĐ Người SDLĐ tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong đơn vị.
Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH. Đối với các doanh nghiệp, khi những NLĐ không may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn. Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường.
* Đối với xã hội Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người SDLĐ và NLĐ, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro trong quan hệ của BHXH. 12 Thứ hai, BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp. BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội. BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên.
Thứ ba, BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. Thứ tư, BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: Trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ. Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này NLĐ được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội.
Lý luận quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện 1. Khái niệm và vai trò quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện 1. Một số khái niệm * Khái niệm cơ quan BHXH cấp huyện Tại khoản 1 Điều 93 Luật BHXH 2014 quy định về khái niệm của cơ quan BHXH như sau: Cơ quan BHXH là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BHTN; thanh tra việc đóng BHXH, BHTN, BHYT và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật [22]. Từ đó có thể hiểu cơ quan BHXH huyện: BHXH cấp huyện là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh, thành phố thuộc trung ương đặt tại quận, huyện, thị 13 xã, thành phố thuộc tỉnh, có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH; quản lý thu, chi BHXH trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định.
* Khái niệm quản lý thu BHXHBB tại BHXH huyện Từ các khái niệm trên có thể hiểu khái niệm quản lý thu BHXHBB tại BHXH huyện là: Sự tác động có tổ chức của chủ thể có tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thu nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề ra.