CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quá trình đổi mới chương trình GDPT mới, để đạt được những mục tiêu GD thì một trong những điều kiện không thể thiếu được đó là trang thiết bị và đồ dùng dạy học của các hoạt động trong nhà trường vì đây được coi như là một phương tiện về cơ sở vật chất nhằm minh họa và truyền đạt kiến thức phục vụ cho quá trình DH của GV trong mỗi đơn vị trường học để đóng góp vào việc nâng cao chất lượng GD. TBDH trong nhà trường giúp cho GV luôn có xu hướng tìm tòi những nội dung phù hợp, vận dụng linh hoạt vào đổi mới phương pháp, tổ chức các hình thức DH, người học tự giác, tích cực chủ động tiếp thu và lĩnh hội tri thức từ đó giúp nhà trường nâng cao hiệu quả và chất lượng GD toàn diện HS. Trong xu thế phát triển và đổi mới GD ngày nay, đặc biệt là sự áp dụng những thành quả của khoa học kỹ thuật hiện đại để chế tạo ra những TB, đồ dùng DH phong phú và đa dạng, nhiều chủng loại hiện đại hơn và ở đó mô tả chân thực hơn những kiến thức trừu tượng xung quynh cuộc sống.
Còn hoạt động quản lý TBDH là một phần trong quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường, diễn ra liên tục theo quá trình dạy và học được tổ chức phù hợp với chương trình giáo dục đã quy định. Vậy thì cần làm gì để QL, cũng như sử dụng TBDH có hiệu quả nhất, đây là những vấn đề được nhiều đơn vị, cá nhân hay các tổ chức trong nước và nước ngoài đề cập quan tâm nghiên cứu, sau đây tác giả xin trình bày tổng quan nghiên cứu vấn đề cụ thể như sau: Tác giả Trần Quốc Đắc với công trình nghiên cứu “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” đã khẳng định trong quản lý TBDH thì vấn đề sử dụng hiệu quả TBDH là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Tác giả Trần Quốc Đắc ý thức được rằng việc sử 5 dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ không hề đơn giản, mà rất phức tập và nặng nề, khó khăn đối với người dạy và người học. Chính vì độ phức tạp của việc sử dụng TBDH nên đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, phải có kỹ năng sử dụng thành thạo TBDH.
Cụ thể là người giáo viên ngoài những kiến thức được hiểu biết về TBDH mình đang sử dụng và kỹ thuật sử dụng các thiết bị dạy học đó, mà điều quan trọng hơn là phải nắm chắc phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH. Người giáo viên phải trả lời được các câu hỏi: sử dụng TBDH với mục đích gì? lúc nào? liều lượng bao nhiêu? đặc điểm tâm lí của học sinh ra sao? [8]. Nói về vai trò của TBDH, tác giả Đặng Hồng Sâm trong công trình nghiên cứu của mình “Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường đại học” đã khẳng định rằng thiết bị dạy học hỗ trợ đắc lực cho người dạy và người học, làm cầu nối giữa người dạy và người học, và làm cho hai chủ thể quá trình dạy học này gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục, qua đó làm cho chất lượng dạy và học được nâng cao [25]. Tác giả Tô Xuân Giáp trong công trình nghiên cứu “Phương tiện dạy học hướng dẫn chế tạo và sử dụng” đã trình bày rõ khái niệm TBDH và đưa ra những cơ sở để phân loại các phương tiện dạy học một cách khoa học.
Theo tác giả thì hiệu quả sư phạm của phương tiện dạy học sẽ được tăng lên rất nhiều nếu phương tiện dạy học được sử dụng đúng về mặt nội dung và về mặt kỹ thuật [13]. Qua bài báo “Lý luận về quản lý thiết bị trong nhà trường” tác giả Vũ Xuân Hùng khẳng định thiết bị dạy học là công cụ cần thiết của GV, giúp GV tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS. Sử dụng hiệu quả TBDH giúp HS chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng kĩ xảo. Đặc biệt để triển khai Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 một cách hiệu quả thì TBDH là yếu tố tiên quyết không thể thiếu để giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cức, qua đó nâng cao năng lực người học [15].
6 TBDH là một trong những điều kiện rất quan trọng và không thế thiếu được của quá trình DH, nó vừa đóng vai trò là nội dung, và vừa là phương tiện truyền tả thông tin giữa GV và HS nhằm giúp HS tiếp thu kiến thức đã học một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Ta nhận thấy rằng, cho đến nay các công trình nghiên cứu đã được nhiều tác giả quan tâm đến quản lý TBDH, ở các nhà trường từ Đại học xuống đến mầm non, từ thành thị, nông thôn đến miền núi và hải đảo, ở các nghiên cứu đó đã đề ra được những biện pháp quản lý phù hợp. Tuy vậy, các đề tài nghiên cứu ở các địa phương khác nháu, những vùng miền khác nhau là không giống nhau. Thực tế quản lý TBDH ở các trường tiểu học thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam còn nhiều bất cập: thiếu thốn chưa chuẩn bị kịp; công tác QL của các nhà QLGD, HT chưa khoa học, chưa thường xuyên, liên tục còn thiếu tính đồng bộ, trang thiết bị lạc hậu; đội ngũ cán bộ TB thì không thích ứng với sử dụng, khai thác hết tính năng của thiết bị mới đầu tư.
Chương trình GD phổ thông mới hiện nay, để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD, trong đó thành tố TBDH không thể tách rời hoạt động DH trong các nhà trường. Tại địa phương thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, nhất là trong các nhà trường ở bậc TH chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu về vấn đề "Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018”. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Thuật ngữ QL là một thuật ngữ rất phổ biến, đã được rất nhiều nhà khoa học, nhà QL cũng như QLGD định nghĩa, nhưng từ trước đến nay chưa có một khái niệm nào thống nhất.
Định nghĩa QL là một định nghĩa rất quan trọng và phong phú và có rất nhiều dấu hiệu đặc trưng, đối tượng. Nó thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử, chính vì vậy không có khái niệm QL chung nào cho mọi lĩnh vực hoạt động. QL được ra đời từ rất sớm, nó gắn liền với sự phát triển và xuất hiện của loài người. Trong quá trình phát triển của loài người, khi xã hội càng phát triển thì yêu cầu QL càng phải cao, bởi lẽ chúng ta thấy rằng muốn nâng cao năng 7 suất lao động thì phải có sự chỉ huy, công tác điều hành QL phải có người thủ lĩnh, người đứng đầu.
Trong thời đại ngày nay, QL được coi là rất quan trọng trong quá trình hoạt động và sản xuất và được coi là một trong những nhân tố phát triển kinh tế - xã hội đó là: nguồn vốn, lực lượng lao động, những ứng dụng khoa học kỹ thuật, tài nguyên thiên nhiên và QL. Trong đó QL đóng vai trò quyết định trong sự thành công hay thất bại của một hoạt động hay của một đơn vị tổ chức, nó ảnh hưởng đến vận mệnh của một đất nước, một dân tộc. Quan điểm của Trần Kiểm trong “Khoa học quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là: những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất được gọi là quản lý [17]. Còn tác giả Bùi Minh Hiền thì khẳng định “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục đích đề ra” [16].
Còn theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Ngày nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đaṭ đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Từ những diễn đạt nội hàm khái niệm quản lý ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể để quản lý đến đối tượng quản lý nhằm điều khiển và hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục tiêu phù hợp với quy luật khách quan và ý chí của người quản lý. Quản lý nhà trường Trong thời đại 4.0 như hiện nay, với nền kinh tế hội nhập đa phương thức, 8 đa chiều thì GD không tuân thủ theo một thiết sư phạm đơn thuần mà các hoạt động GD của nhà trường đang đặt ra cho nhà QL với một mục tiêu cao nhất là hình thành nên những con người có khả năng thích ứng với xã hội đa chiều có nhân cách tốt, có kỹ năng hoạt động và làm việc đáp ứng với yêu cầu của xã hội ngày nay.
Và theo quan niệm của một học giả nước ngoài thì nhà trường được coi như vầng chán của cộng đồng còn cộng đồng là trái tim của nhà trường. Chủ chương của Đảng và nhà nước ta là tạo ra một xã hội học tập, học tập suốt đời để đáp ứng với nhu cầu xã hội ngày nay để sao cho mỗi công dân được học tập một cách tốt nhất ở những thời điểm phù hợp và đa dạng hóa các loại hình học tập để đáp ứng với tình hình mới.