CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”. Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc Hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông có nêu: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục.
[21, dòng 22] Trong Luật Giáo dục, Điều 24.2 qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. [14, trang 8] Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông, trong đó người học thực hiện hai chức năng: lĩnh hội và tự điều khiển (tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo) và người dạy thực hiện hai chức năng: truyền thụ và điều khiển (tổ chức, hướng dẫn thích hợp) nhằm phát huy tư duy độc lập, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp, khả năng tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập. Thực hiện được điều này thì không thể nào thiếu TBDH. Trong quá trình dạy học, thiết bị dạy học không thể nào thiếu được vì nó là công cụ lao động sư phạm của giáo viên và là công cụ nhận thức của học sinh; là nội dung, là phương tiện chuyển tải thông tin.
Sử dụng TBDH phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn đúng quy trình, đúng phương pháp sẽ tạo ra nhiều khả năng giúp cho giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, giúp học sinh hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành, hình thành phương pháp học tập chủ động tích cực, sáng tạo; lúc này thiết bị dạy học trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận không thể tách rời của cả phương pháp và nội dung dạy học. Lịch sử phát triển giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng cho thấy, nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học luôn được coi trọng. Nghiên cứu về vấn đề trực quan và các TBDH nhiều nhà khoa học như: Konmensky (1592- 1679), V.Bêlinxky (1811-1848), Thái Duy Tuyên, Vũ Trọng Rỹ. và các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đã xây dựng được một hệ thống lí luận về vai trò, tác dụng của TBDH cùng một số yêu cầu và nguyên tắc sử dụng nó trong QTDH.
Ở Việt Nam, ngoài chủ trương ưu tiên tăng cường trang bị thiết bị dạy học cho tất cả các cơ sở giáo dục, nhiều nhà khoa học cũng đã quan tâm nghiên cứu xây dựng hệ thống lý luận về vai trò TBDH, coi TBDH là một trong những thành tố cơ bản trong quá trình dạy học - giáo dục hiện nay. Giống như các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường, hoạt động quản lý TBDH diễn ra liên tục trong suốt năm học. Chính vì vậy quản lý công tác TBDH cũng là nội dung chủ yếu của người cán bộ quản lý. Làm thế nào để quản lý tốt công tác thiết bị dạy học trong điều kiện đổi mới chương trình giáo dục hiện nay là vấn đề cấp thiết mà người làm công tác giáo dục luôn quan tâm, trăn trở.
Đã có một số nghiên cứu về công tác quản lý TBDH ở trường THPT được đăng trên báo Giáo dục thời đại, tạp chí Thiết bị giáo dục., một số luận văn Cao học nghiên cứu công tác quản lý TBDH ở các địa phương khác nhau, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề này ở các trường THPT huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Hệ thống các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, từ thời kỳ lạc hậu đến xã hội văn minh ngày nay, con người biết tập hợp nhau lại để tự vệ, chinh phục thiên nhiên, lao động kiếm sống, từ lao động chung của mọi người đã xuất hiện một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội, qua đó hình thành những hoạt động có tổ chức, phối hợp và điều khiển đối với họ. Những hoạt động này tồn tại và phát triển một cách tất yếu khách quan, làm cơ sở đảm bảo cho mọi hoạt động của lao động chung của con người đạt được kết quả mong muốn, từ đó làm nảy sinh hoạt động quản lý.
Xã hội loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên trong quản lý cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, liên quan đến mọi người. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Hoạt động quản lý chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp được sự nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Các triết gia, các chính trị gia từ thời cổ đại đến nay đều coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội, quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan, là một sự tất yếu của lịch sử. Các Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8, Tr 480].
Trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người. - Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [10, Tr 176] - Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [13, Tr 11] - Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’’ [18, Tr16]. - Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” khi đề cập về vai trò của quản lý trong xã hội cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [19, Tr19] - Theo tác giả Hanold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học [11, Tr 33]. Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng có thể thấy rõ được nội hàm khái niệm quản lý như sau: - Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động. - Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức. - Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức - Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý được quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý.
Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý. - Hoạt động "quản lý" bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định. Khái niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người. Như vậy, có thể hiểu: quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra.
Chức năng của quản lý Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, hình thành từ quá trình phân công, hợp tác lao động và chuyên môn hoá trong quản lý, thể hiện qua các tính chất tương đối độc lập của những bộ phận của quản lý. Quản lý có 4 chức năng: - Kế hoạch hoá. - Kiểm tra, đánh giá. - Kế hoạch hoá: là quá trình là xác định các mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt đến mục tiêu của tổ chức.