Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA KHEN THƢỞNG 1.1 Thi đua khen thƣởng 1.1 Khái niệm thi đua, khen thƣởng 1.1 Khái niệm thi đua Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Thi đua là việc cùng nhau đưa hết khả năng ra làm nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt được thành tích tốt nhất trong một hoạt động nào đó” [41, tr. Thi đua nói chung xuất hiện một cách tự nhiên, khách quan nhƣ là kết quả của sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, của sự phân công lao động trong quá trình sản xuất.Mác, thi đua là một hiện tƣợng xã hội; thi đua nảy sinh trong quá trình tổ chức và phân công lao động xã hội. Ông viết “… ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đẻ ra thi đua, cũng kích thích nguyên khí làm tăng năng suất cá nhân của từng người riêng rẽ… Đó là vì con người ta, do bản tính, nếu không phải là động vật chính trị như Arixtôt nói, thì dầu sao cũng là một động vật xã hội”[4, tr.Mác cũng sử dụng khái niệm tinh thần thi đua để nói về tâm lý thi đua giữa những ngƣời trong lao động trong quá trình hợp tác. Nghiên cứu quá trình hợp tác giữa con ngƣời và con ngƣời trong lao động sản xuất, thấy đƣợc hiện tƣợng diễn ra một cách khách quan trong quá trình hợp tác lao động, C.
Mác đã đƣa ra khái niệm về thi đua “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt nghị lực sinh động tăng thêm nghị lực cho riêng từng người” [28]. 10 Luan van Trong lao động xã hội do sự phân công lao động cũng nhƣ hợp tác lao động mọi thành viên đều có xu hƣớng so đo khả năng và năng lực với nhau, cũng nhƣ so sánh những gì mình làm cho tổ chức với những gì mình đạt đƣợc; từ đó kích thích từng ngƣời ganh đua với nhau kích thích trí lực. Nhìn chung có thể thấy thi đua là đặc trƣng cho các hình thức xã hội có phân công lao động xã hội và hợp tác lao động.
Trên cơ sở các quan điểm của C.Mác – Lê Nin về thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những quan điểm vào phong trào thi đua yêu nƣớc ở nƣớc ta, theo đó thi đua là một biện pháp cực kỳ quan trọng thúc đẩy phong trào cách mạng nhằm thực hiện mục tiêu cách mạng đã đề ra. Thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngƣời khởi xƣớng ra hàng loạt phong trào thi đua qua các thời kỳ cách mạng nhƣ các phong trào: Đền ơn đáp nghĩa đối với thƣơng binh, gia đình liệt sĩ, những ngƣời có công đối với cách mạng; phong trào làm việc thiện cứu giúp những ngƣời, những gia đình do hoàn cảnh đặc biệt lâm vào cảnh khó khăn, đói kém; phong trào giết giặc lập công để kháng chiến kiến quốc, phong trào giúp đỡ bộ đội; phong trào tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm; phong trào ngƣời tốt việc tốt. Thi đua phải trở thành một phong trào rộng khắp, liên tục trên tất cả các lĩnh vực. Trong “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” viết vào tháng 6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rằng: “Vì bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, công, nông, thương, binh ; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau”[15].
Thi đua yêu nƣớc là một phong trào cách mạng rộng lớn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tất cả các thành phần, các tầng lớp xã hội. Thi đua cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức một cách chặt chẽ, thông suốt, liên tục và bền bỉ. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nƣớc đã có tác dụng to lớn, thiết thực, động viên khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân 11 Luan van ra sức đoàn kết, phấn đấu, không quản hy sinh gian khổ, đem hết tài năng trí tuệ và sức lực phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lƣợc, cũng nhƣ trong sự nghiệp xây dựng đất nƣớc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thi đua còn là một phƣơng cách tốt để mọi ngƣời giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, để quần chúng nhân dân hăng hái tham gia vào đời sống thực tiễn, tôi luyện và trƣởng thành.
Thi đua giúp cải tạo con ngƣời, nhằm xây dựng những nhân tố tiên tiến, nâng đỡ những ngƣời kém cỏi, làm cho mọi ngƣời giỏi hơn, hoàn thiện hơn. Nhƣ thế, “thi đua không phải là tranh đua” mà là việc “người đi trước hiểu biết, dẫn người đi sau, làm cho mọi người cùng tiến bộ” [18, tr.479] Tại điều 3 khoản 1 của Luật thi đua, khen thƣởng quy định “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [24, tr. Khái niệm khen thƣởng Theo từ điển Tiếng việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng, khen là sự nhận xét, đánh giá tốt về một con ngƣời nào đó, tổ chức nào đó, về cái gì, việc gì đó với ý nghĩa hài lòng; còn thƣởng là tặng, cho bằng hiện vật hoặc tiền. Khen thƣởng là hình thức ghi nhận công lao, thành tích của cơ quan có thẩm quyền đối với cá nhân và tập thể, khen thƣởng vừa có ý nghĩa động viên về tinh thần vừa khích lệ bằng hiện vật.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc khen thƣởng phải đúng việc, đúng ngƣời, kịp thời sẽ có tác dụng động viên; từ đó giáo dục, tạo nên các gƣơng điển hình để mọi ngƣời noi theo, trong Quốc lệnh ban hành 10 điều thƣởng phạt, có viết: “Trong một nước thưởng, phạt phải 12 Luan van nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [16, tr. Nguyên Tổng Bí thƣ Trƣờng Chinh cho rằng: “Khen thưởng là vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội. Công tác khen thưởng cũng như trừng phạt là một vấn đề thực hiện phát sinh và tồn tại trong quá trình phát sinh phát triển của con người, giai cấp thống trị sử dụng nó như một vũ khí để duy trì quyền lực thống trị của mình” [12,tr. Đối với nƣớc ta, việc khen thƣởng đã có nhiều năm nay từ thời phong kiến tồn tại đến thời điểm hiện tại.
Khen thƣởng là một công cụ hữu ích đối với ngƣời quản lý, ngƣời đứng đầu tổ chức nhằm khuyến khích, động viên mọi ngƣời tích cực, hăng say trong công tác và lao động sản xuất. Trong quản lý nhà nƣớc, khen thƣởng đƣợc hiểu là sự ghi nhận biểu dƣơng tôn vinh công trạng của các tổ chức cá nhân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mục tiêu mà tổ chức đó phân công; khen thƣởng ngƣời làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc là hình thức công nhận sự đóng góp vƣợt mức yêu cầu của cán bộ, công chức đối với hoạt động công vụ, là sự ghi nhận và trao phần thƣởng về vật chất và tinh thần cho cán bộ công chức đạt những thành tích để động viên khuyến khích sự cống hiến của họ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cụ thể. Trong quản lý nhà nƣớc, khen thƣởng đƣợc quy định tại điều 3 khoản 2 Luật thi đua khen thƣởng thì “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [24, tr. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thƣởng Thi đua và khen thƣởng là hai hoạt động có quan hệ khăng khít và tác động qua lại với nhau, có thi đua sẽ có khen thƣởng và ngƣợc lại khen thƣởng sẽ khuyến khích đƣợc phong trào thi đua phát triển.
Nói về mối 13 Luan van quan hệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”, câu nói này của Ngƣời ta có thể hiểu rằng thi đua là hành động tự nguyện, tự giác, là cả quá trình phấn đấu, học tập và lao động, cống hiến công sức của mình cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Khen thƣởng là lúc chúng ta gặt hái đƣợc những thành quả mà cả quá trình nỗ lực phấn đấu mới có đƣợc; khen thƣởng là chức năng của tổ chức quản lý nhằm ghi nhận, biểu dƣơng, khuyến khích, tôn vinh công lao đối với những tập thể và cá nhân về những thành tích đã đạt đƣợc. Thi đua là cơ sở của việc khen thƣởng, thi đua tốt thì có nhiều thành tích để khen thƣởng. Việc bình bầu thi đua đúng, công khai, chặt chẽ giúp cho việc khen thƣởng đƣợc chính xác; tuy nhiên việc bình bầu thi đua không khách quan, nể nang thì làm cho công tác TĐKT mang tính hình thức và phản tác dụng.
Muốn làm tốt khen thƣởng thì phải lãnh đạo tốt phong trào thi đua, khen thƣởng phải phản ánh đúng phong trào thi đua; nơi nào có phong trào thi đua mạnh mẽ thì khen thƣởng đƣợc nhiều và hình thức khen thƣởng cao. Nếu thi đua là cở sở để khen thƣởng thì khen thƣởng đƣợc xem là đòn bẩy để khuyến khích các phong trào thi đua phát triển; không nên hiểu thi đua chỉ vì mục đích khen thƣởng, nếu thi đua chỉ vì khen thƣởng thì mục đích của thi đua sẽ gặp nhiều khó khăn, khen thƣởng chỉ là sự khuyến khích, động viên tinh thần đối với những thành tích của cá nhân, tập thể qua quá trình phấn đấu lao động, sản xuất và sáng tạo. Điều đó tạo sự công bằng của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý con ngƣời, đối với những cá nhân có nhiều đóng góp cho xã hội. Để việc thi đua và khen thƣởng trở thành động lực tích cực trong quá trình phát triển thì thi đua phải có sự lãnh đạo đúng; thi đua mà không có sự lãnh đạo, tổ chức thì thƣờng nảy sinh ganh tỵ, ghét bỏ nhau, chia rẽ nội bộ, có thể làm những ngƣời tham gia thi đua nản lòng; phải tránh hiện tƣợng các cá nhân, tập thể tham gia thi đua mà chia rẽ, chỉ biết đến lợi ích 14 Luan van của cá nhân mình mà không quan tâm đến lợi ích của ngƣời khác, lợi ích của tập thể; tránh tƣ tƣởng anh hùng cá nhân, vì thành tích cá nhân.