Chương 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ TÀI SAN CÔNG Ở CÁC TRUONG ĐẠI HỌC CÔNG LAP 1. Khái quát về tình hình nghiên cứu Quản lý tài sản đặc biệt là tài sản công là vấn đề được các chuyên gia quan tâm bởi nó là vấn đề rất quan trọng đối với một đơn vị, một địa phương và cả quốc gia. Các nghiên cứu trong và ngoài nước tiêu biéu đề cập đến van dé quản ly tai sản công cụ thể như sau: 1.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài Bond Sandy va Dent Peter (1998), “Efficient management of public sector assets The call for correct evaluation criteria and techniques” (Quan lý hiệu qua tài sản công — Yêu cầu về các tiêu chí và kỹ thuật đánh giá), Journal of Property Valuation & Investment. Trong cuốn sách này các tác gia đã nêu ra những han chế của Chính phủ tại Vương quốc Anh và các nước khác trong việc lưu trữ hồ sơ sở hữu nhà đất. Theo các tác giả nay, dé tiến hành quan lý chủ động các loại tài sản này, cần phải cải cách chế độ kế toán và - Đinh Học Đông, (2000), “Quản lý tài sản công“ , Nhà xuất bản Kinh tế tài chính Trung Quốc. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã phân tích những van dé lý luận cơ bản về TSC, mối quan hệ giữa TSC và tài chính công; thực trạng TSC và khái quát về quá trình cải cách thé chế quản ly TSC, đặc trưng cơ bản của quản lý TSC trong chế độ xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc qua 3 giai đoạn: giai đoạn thứ nhất từ 1949-1978 tiến hành quản ly tài sản quốc hữu trong thé chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, giai đoàn thứ 2 là thời kỳ cải cách thể chế quản ly tài sản quốc hữu 1979-1998 và giai đoạn thứ ba là thời kỳ hoàn thiện thé chế quản lý TSC từ 1998-2000.
Dựa vào kết quả phân tích mục tiêu và hiện trạng quản ly của TSC mang tính kinh doanh va TSC mang tính HCSN, tác giả đã nêu định hướng cải cách quản lý TSC ở Trung Quốc trong những năm tiếp theo. Tác giả cũng đưa ra kết luận về ba thực trạng về quản lý TSC tại các đơn vị HCSN ở Trung quốc đó là: Quản lý TSC hiệu quả chưa cao, tài sản tồn tại còn chưa minh bạch; chế độ quản lý còn lỏng lẻo, tài sản chưa được bố trí theo các quy định. - Các tác gia Malawi Makaranga Ngwtrra, Parsa Ali và Manase David, “Effectiveness of property asset management in Scottish councils” (Hiệu quả quản ly tai sản tại Hội đồng Scottland), nhóm tác giả đã nghiên cứu, đánh giá hiệu qua của quản lý tài sản là bất động sản của Hội đồng Scottland so với mục tiêu đặt ra nhằm dat giá trị cao nhất. Trong đó đã nêu va phân tích một số nhân tô chính dé có thé nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là bất động sản nói chung va áp dụng riêng đối với đối tượng của nghiên cứu gồm: giảm tần suất bảo dưỡng, giảm trừ chi phí vận hành hàng năm, cải thiện cơ sở cung cấp dịch vụ, giới thiệu phương thức làm việc mới, mở rộng không gian sử dụng, cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ , tăng việc sử dụng dịch vụ, mở rộng phạm vi của các dịch vụ”, nâng cao tính bền vững của các tải sản.
Các công trình nghién cứu trong Hước - Nguyễn Văn Xa,“Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý tài sản công giai đoạn 2001-2010”. Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã nghiên cứu thực trạng quản lý và sử dụng tài sản công ở nước ta từ năm 1995 đến năm 2000, trên cơ sở đó đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và chỉ ra các nguyên nhân cửa ưu điểm, hạn chế. Từ đó kiến nghị những quan điểm, giải pháp dé thực hiện việc đổi mới cơ chế quản lý TSC tại các đơn vị hành chính sự nghiệp trong giai đoạn 2001-2010. Đây là công trình được thực hiện năm 2000, các số liệu được sử dụng trong đề tài được thống kê đến năm 2005 vì vậy, các kết quả nghiên cứu của đề tài gần như chỉ có giá trị đóng góp thiết thực ở thời điểm thực hiện.
- Phạm Đức Phong, “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tai đơn vi sự nghiệp”. Tác giả đã tập trung nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý TSC được Nhà nước giao cho các đơn vị sự nghiệp trực tiếp sử dụng. Đặc biệt, dé tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu hệ thông hóa các cơ chế, chính sách đang áp dụng đối với quản ly TSC tại các đơn vi sự nghiệp, đồng thời đánh giá những kết quả đã đạt được khi thực hiện, bên cạnh đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế khi thực hiện các cơ chế, chính sách từ đó đưa ra những kiến nghị các giải pháp hoàn thiện, đổi mới. Tuy nhiên, dé tài chưa thực sự quan tâm đánh giá đên hiệu lực, hiệu quả của các cơ chê chính sách đó dé có thé đưa ra những giải pháp giúp các cấp có thâm quyền ban hành các văn ban có hiệu lực, hiệu quả pháp lý cao hơn.
- Tào Hữu Phùng, “Đổi mới và tăng cường công tác giám sát tài sản nhà nước của Quốc hội là biện pháp rất quan trọng”. Theo tác giả, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhiều vụ việc tham nhũng, lãng phí, thất thoát liên quan đến tài sản nhà nước trong thời gian qua là do công tác quản lý đặc biệt là công tác kiểm tra và giám sát sử dụng TSNN không chặt chẽ. Theo đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả vai trò giám sát tối cao của Quốc hội trong việc giám sát quan lý và sử dụng TSNN ; đồng thời khang định việc đổi mới và tăng cường công tác giám sát TSNN của Quốc hội là một trong những biện pháp trọng tâm đề nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng TSNN. - Trần Văn Giao, “Đổi mới quản lý tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp” [đã giới thiệu khái quát về TSC trong các DVSN (phạm vi, đặc điểm, nội dung quản lý, cơ chế quản lý), đi sâu phân tích thực trạng quản lý TSC trong các DVSN (gồm thực trạng về cơ chế quản lý và nội dung tô chức quản lý) với những kết quả đạt được, những tồn tại cơ bản, đồng thời rút ra nguyên nhân của những tôn tại và đề xuất các biện pháp nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về tổ chức quản lý, sử dụng TSC và đổi mới cơ chế, tăng cường công tác quản ly TSC trong các DVSN.
Sau khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được ban hành và có hiệu lực thi hành (năm 2008), hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý TSC đã mang tính hệ thống, tương đối đầy đủ và đồng bộ. Các nghiên cứu từ thời điểm đó đến nay đã đa dạng hơn, với các mục tiêu, kết quả nghiên cứu tập trung vào nhiều vấn đề: Nghiên cứu sâu hơn các khái niệm, nội hàm của TSC và quản ly TSC dé từ đó xác định đối tượng, nguyên tắc, phương pháp quản lý, kiến nghị các giải pháp tô chức thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; nghiên cứu quản lý TSC gắn với quản lý tài chính, quản lý NSNN, nghiên cứu việc sử dụng các công cụ quản lý theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới (chăng hạn công cụ kế toán) dé dam bảo quan ly TSC có hiệu quả hơn. - Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu về TSC và quản lý TSC trong những năm gần đây như: “Cơ sở pháp lý cao nhất cho việc quản lý, sử dụng tài sản công” của Nguyễn Mạnh Hùng đã trình bày ngắn gọn về bối cảnh ra đời và ý nghĩa của Luật quản ly, sử dụng tai sản nha nước ở Việt Nam; từ đó đi sâu vào phân tích những nội dung cơ bản của Luật với ý nghĩa là cơ sở pháp lý cao nhất trong quản lý, sử dụng TSC ở Việt Nam. Cụ thể, tác giả đã nêu, phân tích và đánh giá toàn diện những nội dung chính của Luật về phạm vi điều chỉnh, các nguyên tắc quản lý, sử dụng TSNN; các hành vi bị nghiêm cắm và các hình thức xử lý theo quy định của pháp luật; chế độ quan lý TSNN đối với từng loại hình đơn vị: cơ quan nhà nước, các DVSN, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tô chức xã hội nghề nghiệp nhằm giúp các cơ quan, đơn vị xây dựng được mô hình, phương thức quản lý, sử dụng TSC phù hợp, hiệu quả.
“Góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp” của Tran Văn Giao đã giới thiệu khái quát về DVSN và sự khác biệt cơ bản giữa DVSN với cơ quan quản lý nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, kinh phí hoạt động và việc quan lý, sử dụng TSC. Tác giả đã phân tích sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản ly TSC nói chung và TSC trong các DVSN nói riêng, đưa ra những phương hướng cơ bản trong quản lý, sử dụng, khai thác TSC trong thời gian tới. Từ đó, tác giả tập trung đề xuất 5 nhóm van dé chủ yếu nhằm góp phan hoàn thiện cơ chế quản lý TSC trong các DVSN cho phù hợp với cơ chế tự chủ về tài chính và tính chất đặc điểm của từng loại hình hoạt động sự nghiệp theo hướng quy định cụ thé và đa dạng hơn nguồn kinh phi sử dụng dé đầu tư xây dựng, mua sắm va sửa chữa tài sản; xác định và tăng cường phân cấp thâm quyền quyết định trang bị xử lý tài sản cho thủ trưởng DVSN; nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của DVSN có thu trong sử dụng TSC; xác định tiêu chuẩn và định mức sử dụng tài sản, cơ chế xác định giá trị quyền sử dụng đất tính vào giá tri tài sản của các DVSN được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Cuối cùng, tác giả kiến nghị Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan chức năng có liên quan nên sớm nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý TSNN trong các DVSN dé áp dụng trong cả nước.