lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở Lý luận về Quản trị tài sản nội bảng của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị tài sản nội bảng tại NHTMCP Ngoại thƣơng Chi nhánh Quảng ninh. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài sản nội bảng tại Vietcombank Chi nhánh Quảng ninh. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NỘI BẢNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Tổng quan về NHTM 1.Khái niệm NHTM NHTM là một loại trung gian tài chính có số lượng lớn nhất trong hệ thống các tổ chức trung gian tài chính và thực hiện phần lớn hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính nói chung. Theo Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 (Luật số 47/2010/QH12) có nêu: “ Tổ chức tín dụng là doanh nghiêp được thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dung phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Từ định nghĩa chung đó, và cũng theo Luật này thì “NHTM là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này vì mục tiêu lợi nhuận”.Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM. Nghiệp vụ Tài sản nợ và vốn tự có của NH Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Bao gồm nghiệp vụ sau: vốn tự có của NH, nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá, nghiệp vụ đi vay, nghiệp vụ huy động vốn khác và nghiệp vụ tạo lập vốn tự có của NH.
Nghiệp vụ Tài sản có. Nghiệp vụ này phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của NHTM. Nội dung của nghiệp vụ này bao gồm: nghiệp vụ ngân quỹ, nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ đầu tư tài chính và nghiệp vụ TSC khác. Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết TS.
Nghiệp vụ này liên quan đến việc môi giới mua bán những công cụ tài chính đã tạo ra thu nhập nhờ các khoản lệ phí và chuyển nhượng những món vay, tất cả chúng tác động đến lợi nhuận của NH nhưng không tìm thấy trong bảng tổng kết tài sản. Dạng thứ hai của hoạt động ngoài bảng tổng kết là nhờ bán các món cho vay và dạng thứ ba là cung cấp các dịch vụ chuyên môn hoá cho các khách hàng của họ, ví dụ như: thực hiện kinh doanh hối đoái nhân danh một khách hàng, phục vụ một chứng khoán hỗ trợ vay thế chấp bằng cách thu tiền gốc và tiền lãi rồi đem thanh toán hết, bảo đảm các chứng khoán nợ, bảo lãnh,… Như đã nêu ở trên, bài viết chỉ tập trung vào quản trị TSC và TSN của Ngân hàng. Vì vậy, nội dung tiếp theo, luận văn tập trung phân tích về tài sản nội bảng của NHTM 1.Tài sản NHTM.Khái niệm tài sản NHTM Tài sản của NHTM là toàn bộ những thứ có giá trị mà ngân hàng hiện có quyền sở hữu hoặc hiện có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một cách hợp pháp. Chúng là những kết quả của các hoạt động trong các thời kỳ trước đó và có khả năng mang lại lợi tức cho ngân hàng.
Về hình thức, tài sản của ngân hàng có thể tồn tại dưới dạng những tài sản thực (vật có thực, tiền, các tài sản tài chính khác, tài sản vô hình,…) Về nguồn gốc, tài sản của ngân hàng được hình thành từ 3 nguồn chính: tiền gửi của người gửi tiền và tiền cho vay của NHTW và những người cho vay khác của ngân hàng, vốn góp ủa chủ sở hữu ngân hàng và vốn tích luỹ từ lợi nhuận sau các thời kỳ kinh doanh.Phân loại tài sản NHTM. Tài sản có của NHTM a/ Khái niệm Tài sản có là 1 khái niệm kinh tế - kế toán. Các nhà nghiên cứu và quản lý định nghĩa: TSC của NH là giá trị tiền tệ của các tài sản mà các NH hiện có, hiện đang sử dụng vào các mục đích khác nhau, tính đến 1 thời điểm xác định. b/ Đặc điểm Phần lớn TSC của NHTM là tài sản tài chính và các khoản cho vay.
Nó chiếm 80 – 85% trong tổng tài sản của NH. Phần lớn các TS đó đều có tính lỏng: giấy tờ có giá có thể chuyển đổi thành tiền mặt thông qua TTCK hoặc thông qua nghiệp vụ chiết khấu, các khoản cho vay có thể chuyển đổi thành tiền mặt thông qua nghiệp vụ mua bán nợ. TSC của NH chịu tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh: tốc độ phát triển kinh tế, lạm phát, lãi suất thị trường, sự phát triển của thị trường tài chính, thu nhập bình quân đầu người. Đồng thời, TSC của NH có tính rủi ro cao: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái,… TSC của NH có mối quan hệ hữu cơ với TSN: TSN là nguồn, TSC là sử dụng nguồn.
Mặt khác, chất lượng TSC quyết định chất lượng và kết quả hoạt động của NHTM c/ Phân loại TSC Một cách tổng quát, toàn bộ danh mục TSC của NH thường được quy về các nhóm chính: - Khoản mục dự trữ: là tài sản được giữ tại các NHTM hoặc gửi các NH khác với mục tiêu đảm bảo khả năng thanh khoản cho NH. Gồm: + Dự trữ sơ cấp: các khoản mục ngân quỹ, tiền gửi tại NHTW và các NH khác. + Dự trữ thứ cấp: các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền một các thuận lợi: tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã chấp nhận,… - Đầu tư tài chính: đầu tư chứng khoán,… - Khoản mục cho vay: Đây là khoản mục chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản và mang lại lợi nhuận nhiều nhất. - Khoản mục TSCĐ và TSC khác: trụ sở và thiết bị, bất động sản khác thuộc sở hữu của ngân hàng, tài sản vô hình và TSC khác 1.
Tài sản nợ a/ Khái niệm: Tài sản nợ của NH là nghĩa vụ tiền tệ của ngân hàng đối với người gửi tiền và các chủ nợ của ngân hàng tính đến một thời điểm nhất định. Nó được hình thành từ hoạt động huy động tiền gửi và vay vốn của ngân hàng trên các thị trường tài chính thời kỳ trước đó. b/ Vai trò của TSN trong NHTM Tài sản nợ là yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh NH. TSN là nguồn tiền chủ yếu của các khoản đầu tư, cho vay.
Do đó nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của NH. Điều đó được thể hiện: Thứ nhất: TSN là cơ sở tài chính để NH tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. Những NH muốn tiến hành hoạt động kinh doanh phải có một mức vốn tự có và vốn huy động đủ để đáp ứng các nhu cầu nắm giữ TS. Trong khi đó, vốn tự có của các NH thường thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu của nền kinh tế.
Do đó, các NH muốn hoạt động được cần có một khối lượng TSN đủ lớn. Thứ hai: Quy mô của TSN sẽ quyết định quy mô, phạm vi và khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh của NH. Thông thường, các NH phải cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Khi NH có nguồn vốn lớn thì quy mô của cac hoạt động sử dụng vốn như: tín dụng, đầu tư, cho thuê tài chính, … cũng lớn hơn.
Nguồn vốn của một NH gồm TSN và VCSH. Khi TSN tăng thì nguồn vốn cũng tăng do đó NH có điều kiện mở rộng hoạt động của mình. Thứ ba: TSN quyết định năng lực cạnh tranh của NH trên thị trường tiền tệ theo hướng TSN lớn thì khả năng cạnh tranh của NH cao vì NH đã tạo dựng được lòng tin ở khách hàng của họ do đó thu hút được nhiều khách hàng. Đặc biệt, với vai trò tăng khả năng cạnh tranh sẽ giúp NH ít gặp rủi ro thanh khoản.
c/ Nội dung của TSN tại NHTM * Tiền gửi không kỳ hạn: là loại TSN hình thành khi khách hàng gửi tiền vào NH vì các nhu cầu giao dịch, NH mở cho khách hàng một tài khoản ghi rõ số tiền mà họ gửi vào và nhờ đó, khách hàng có quyền phát hành séc để chi trả cho bên thứ ba hoặc rút tiền tại bất kỳ thời điểm nào. * Tiền gửi có kỳ hạn: là những khoản tiền giử có thời hạn đáo hạn ấn định trước, người gửi tiền được NH trao cho giấy chứng nhận tiền gửi với thời hạn đáo hạn được ấn định trước và thong thường không được rút tiền trước hạn và nếu rút trước hạn trước thì người gửi tiền phải báo trước và phải chịu phạt. * Tiền gửi tiết kiệm: là những khoản tiền mà khách hàng gửi vào NH với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Thông thường, không có múc giới hạn về số tiền gửi, có hoặc không có thời hạn đáo hạn cố định.
Khách hàng tự theo dõi số dư trên tài khoản theo sổ hoặc sao kê tài khoản, không được quyền phát hành séc nhưng có thể rút và chuyển sang tài khoản giao dịch để phát hành séc. * Tiền vay: gồm tiền vay từ NHTW và tiền vay từ các TCTD: Thông thường Đây là nguồn vốn đắt của NH nên NH không nên lạm dụng nguồn vốn này vì rất dễ phụ thuộc vào các NH khác và hiệu quả kinh doanh không cao. * TSN khác: Có 3 loại TSN khác tiêu biểu: tiền gửi thị trường tiền tệ, uỷ thác đầu tư, ký thác đầu tư và vốn trong thanh toán. Trên đây là một số TSC, TSN chủ yếu của NHTM.
Việc quản lý tốt các TSN – TSC là một nghệ thuật đòi hỏi nhà quản trị không chỉ giải quyết tốt, hài hoà các vấn đề về chi phí, quy mô của tài sản nợ trong mối quan hệ với tiềm lực, khả năng, lợi nhuận của NH mà còn cần giải quyết tốt mối quan hệ của chúng trong môi trường kinh doanh chung. Sau đây là những nội dung cơ bản về quản trị tài sản nội bảng tại NHTM. Quản trị tài sản nội bảng tại NHTM.