CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát chung về vốn và các hình thức huy động vốn ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về vốn và vốn huy động của ngân hàng thương mại {1} Vốn của NHTM là toàn bộ những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Các thành phần vốn của NHTM bao gồm vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận và vốn khác, cụ thể như sau : - Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng nhỏ ( không quá 10%) trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại là nguồn vốn có y nghĩa đặc biệt nó phản ánh thực lực tài chính của ngân hàng, do vậy nó quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh, thu hút những nguồn 6 vốn khác và cho vay. Quy mô và sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển của NHTM. Khi đánh giá về quy mô của một NHTM thì tiêu chí đầu tiên được đề cập là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng đó.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ. - Vốn huy động Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ công chúng thông qua việc bán các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng (là vốn NHTM tạo lập ra thông qua việc thu hút tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá trị). Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn vốn thu hút từ bên ngoài của NHTM. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng ngày càng phong phú, đa dạng và hiện đại.
Vốn huy động của NHTM gồm: Tiền gửi bao gồm tất cả khoản tiền của mọi tổ chức và cá nhân gửi tiền tại ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên sổ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Phát hành giấy tờ có giá: bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các ngân hàng còn phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn như chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu. Việc phát hành được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn, ngân hàng luôn có những quy định cụ thể về khối lượng huy động, mức lãi suất, thời hạn và phương pháp huy động.
Việc huy động được tiến hành trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến, các ngân hàng sẽ ngừng huy động. - Vốn đi vay Vốn đi vay là nguồn vốn mà NHTM có được dựa trên mối quan hệ vay mượn trên thị trường liên ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay đã được thiết lập. Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn tồn tại tình trạng 7 hoặc dư vốn, hoặc đủ vốn, hoặc thiếu vốn. Khi một ngân hàng thương mại thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng hay cho mục đích đầu tư phát triển mà các nguồn khác chưa đủ đáp ứng, ngân hàng thương mại có thể đi vay.
Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều nguồn khác nhau: Một là, vay ngân hàng trung ương: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), NHTM thường vay ngân hàng trung ương. Hai là, vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là khoản tiền vay để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, trong nhiều trường hợp khoản tiền vay các TCTD khác bổ sung hoặc thay thế cho khoản tiền vay từ ngân hàng trung ương. Ngoài ra, các NHTM có thể vay từ một số nguồn khác như: vay của các tổ chức tài chính khác trong nước, vay các tổ chức tài chính nước ngoài.
- Vốn khác Các nguồn vốn khác là nguồn vốn hình thành trong quá trình cung cấp dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Các ngân hàng thương mại còn huy động vốn từ nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán và một số nguồn khác. Vốn ủy thác: Khi thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ. các NHTM đã tạo nên nguồn ủy thác tại ngân hàng mình.
Do việc phát tiền được thực hiện theo tiến độ công việc nên ngân hàng có thể sử dụng tạm thời lượng tiền này vào hoạt động kinh doanh. Vốn trong thanh toán: Trong quá trình làm trung gian thanh toán, các NHTM cũng tạo được một khoản vốn: tiền gửi đảm bảo thanh toán séc, tiền kí quĩ để mở L/C, các khoản tiền phong tỏa do ngân hàng chấp nhận hối phiếu thương mại. Các khoản này tạm thời được trích ra khỏi tài khoản tiền gửi của khách hàng, nhập vào một tài khoản khác chờ sử dụng nên được coi 8 là tiền nhàn rỗi. Vốn khác: Những ngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ có kết dư từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay cũng tạo nên nguồn vốn cho ngân hàng.
Ngoài ra, các NHTM còn có thể sử dụng các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả. để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại Tùy theo từng tiêu chí, mục đích huy động khác nhau mà các NHTM có các thành phần vốn huy động khác nhau. Cụ thể như sau {3} Thứ nhất; Phân theo loại vốn huy động *Huy động vốn từ tiền gửi Tiền gửi phân loại theo kỳ hạn bao gồm: + Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt như: séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi… Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng, đây là tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. + Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: Là các khoản tiền được ký gửi dưới mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán. Khi cần thanh toán, khách hàng có thể đến ngân hàng để chi tiêu.
Ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và được phép sử dụng tồn khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả. + Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng mà khách hàng chưa có nhu cầu sử dụng đến trong một khoảng thời gian nhất định. Phần lớn nguồn tiền gửi này xuất phát từ nguồn 9 tiền tích lũy của các khách hàng mà có. Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm.
Đây là nguồn tiền gửi tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn nguồn tiền này vào kinh doanh. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hóa các loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng. - Tiền gửi tiết kiệm: Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của dân cư chưa sử dụng cho tiêu dùng. Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm).
Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn. - Tiền gửi của các TCTD khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ qua các kênh thanh toán song phương, đa phương và một số mục đích khác, các TCTD có thể gửi tiền tại ngân hàng. Tuy nhiên, quy mô vốn này thường không lớn. *Huy động vốn từ việc đi vay Vốn vay là quan hệ vay mượn giữa NHTM với các chủ thể khác trên thị trường tiền tệ.
Các NHTM sẽ vay vốn để bổ sung vào vốn huy động của mình khi ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động, hay nói cách khác tạm thời thiếu vốn khả dụng. Trong trường hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng được cho đủ nhu cầu sử dụng của NHTM thì NHTM sẽ đi vay của NHTW. NHTM huy động vốn vay qua các hình thức sau: - Phát hành giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá là giấy tờ chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng với khách hàng. Nếu căn cứ theo thời hạn, giấy 10 tờ có giá được chia thành hai loại: + Giấy tờ có giá ngắn hạn: Là loại có thời hạn dưới 12 tháng, bao gồm các loại kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Bản chất là một khoản tiền gửi có kỳ hạn, thường có mệnh giá khi phát hành, lãi suất theo thỏa thuận giữa khách hàng với ngân hàng hoặc lãi suất cố định. + Giấy tờ có giá dài hạn: Là loại có thời hạn từ 12 tháng trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.