Chương 1: Tổng quan về quản trị vốn tự có của NHTM. Chương 2: Thực trạng quản trị vốn tự có tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Chương 3: Giải pháp nâng cao quản trị vốn tự có tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP. 123doc 3 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Vốn tự có của NHTM 1. Khái niệm và thành phần của vốn tự có 1. Khái niệm về vốn tự có Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Theo đó, vốn tự có được xem là cơ sở để các ngân hàng chủ động định hướng các chính sách phân phối tài chính, thực hiện chiến lược thu hút nguồn vốn, mở rộng hợp tác, phát triển kinh doanh.
Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng được chia thành hai loại: - Vốn tự có cơ bản (Vốn cấp 1): là phần vốn tự có hình thành ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng, đây là nguồn vốn tương đối ổn định. - Vốn tự có bổ sung (Vốn cấp 2): là nguồn vốn tăng thêm khi ngân hàng đã đi vào hoạt động và phụ thuộc vào nguồn vốn tự có cơ bản về quy mô và có tính ổn định thấp. Về mặt kế toán, vốn tự có của một ngân hàng là giá trị tài sản ròng, hay là hiệu số giữa giá trị ghi sổ của tài sản có và giá trị ghi sổ của tài sản nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Về mặt pháp lý, vốn tự có của ngân hàng chính là điều kiện pháp lý căn bản để ngân hàng được thành lập, đồng thời là yếu tố tài chính chủ yếu để đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng, đảm bảo hoạt động an toàn.
Theo Basel II của Ngân hàng Thanh Toán quốc tế (BIS), vốn tự có của NHTM gồm ba loại: vốn cấp 1, vốn cấp 2 và vốn cấp 3. - Vốn cấp 1 (hay vốn cơ bản), là vốn có chất lượng cao, bao gồm lượng vốn dự trữ sẵn có như vốn cổ phần thường và vốn cổ phần ưu đãi, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia và các nguồn dự phòng được công bố như là khoản dự phòng cho các khoản vay. 123doc 4 - Vốn cấp 2 (hay vốn bổ sung), là vốn có chất lượng thấp, bao gồm: các khoản vốn liên quan đến những điều kiện thay đổi, như: dự trữ tổn thất cho vay nói chung, nợ phụ thuộc dài hạn và các cổ phần ưu đãi tích lũy hoặc tái khả dụng. - Vốn cấp 3 (được dự trù nhằm mở rộng định nghĩa vốn), gồm các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn được dung để bù đắp các rủi ro thị trường.
Thành phần của vốn tự có Có nhiều cách khác nhau để cấu thành vốn tự có của NHTM, tùy vào loại hình sở hữu của ngân hàng. Tuy nhiên, có ba dạng tồn tại chính sau đây: - Vốn cổ phần của ngân hàng: là số vốn do các cổ đông đóng góp trực tiếp hoặc mua cổ phiếu được ghi vào điều lệ hay hợp đồng khi thành lập ngân hàng, hay là tổng giá trị số cổ phần chưa thanh toán của cổ đông sáng lập và cổ đông thường. - Các quỹ của ngân hàng: là những khoản vốn được hình thành khi có sự tăng giá trị tài sản, bao gồm: thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận không chia bổ sung vốn điều lệ, chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ khác. - Trái phiếu bổ sung và các công cụ nợ khác: là các khoản tiền gửi không phải chịu yêu cầu dự trữ bắt buộc, có kỳ hạn dài, có chi phí tương đối thấp và không làm giảm lợi tức trên mỗi cổ phần khi phát hành thêm cổ phiếu mới.
Đặc điểm của vốn tự có Thứ nhất, vốn tự có cung cấp nguồn lực cho ngân hàng hoạt động trong thời gian mới bắt đầu hoạt động. Đây là thời gian mà ngân hàng chưa nhận được tiền gửi từ khách hàng, giúp ngân hàng chống đỡ khi có rủi ro phát sinh. Thứ hai, vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng, có thể sử dụng với kỳ hạn dài mà không phải hoàn trả nên nó chính là nền tảng cho sự tăng trưởng của ngân hàng. Thứ ba, vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 10% đến 15%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng vì đó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng, đồng thời tạo nên uy tín ban đầu, duy trì niềm tin của công chúng vào ngân hàng.
123doc 5 Thứ tư, vốn tự có không chỉ quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng mà nó còn là yếu tố được các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng như là: giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay, giới hạn đầu tư vào TSCĐ. Chức năng của vốn tự có Đối với các NHTM, vốn tự có được xem như là một trong những yếu tố then chốt, làm nền tảng cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với ba chức năng cơ bản sau: 1. Chức năng bảo vệ Hoạt động kinh doanh của ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Những rủi ro này khi xuất hiện sẽ gây ra nhiều thiệt hại to lớn, đôi khi nó có thể đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản.
Khi đó, vốn tự có là “tấm chắn” chống đỡ, bù đắp những tổn thất phát sinh và đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Các ngân hàng phải có đủ vốn tự có để đảm bảo được khả năng thanh toán trong mọi trường hợp. Đồng thời, còn phải cung cấp được một khoản vốn dự trữ để duy trì được khả năng trả nợ tránh mọi sự đe doạ do thua lỗ. Đây cũng chính là lý do khiến cho NHNN rất quan tâm trong việc đưa ra những quy định giám sát chặt chẽ vốn tự có của các NHTM.
Ngoài ra, do mối quan hệ tương hỗ giữa ngân hàng với khách hàng, vốn tự có còn có chức năng bảo vệ cho khách hàng (người ký thác) không bị mất vốn khi gửi tiền tại ngân hàng. Chức năng hoạt động Chức năng này được thể hiện qua việc vốn tự có được sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. Vì vậy, chức năng hoạt động chỉ là thứ yếu.
Chức năng điều chỉnh Vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thường căn cứ vào đó để xác định các tỷ lệ an toàn và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của 123doc 6 ngân hàng. Vốn tự có còn là căn cứ để xác định và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an toàn trong kinh doanh. Những nhân tố ảnh hƣởng đến việc tạo lập vốn tự có 1. Các nhân tố khách quan - Trạng thái nền kinh tế: Các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung hay lĩnh vực ngân hàng nói riêng đều tồn tại và phát triển trong môi trường tổng hòa các mối quan hệ kinh tế - xã hội với nhiều biến động.
Do đó, tất cả hoạt động của các ngân hàng trước hết phải chịu sự tác động của trạng thái nền kinh tế. Dù là trạng thái tăng trưởng, ổn định hay suy thoái đều tác động đến việc tạo lập vốn của ngân hàng. - Chính sách kinh tế của Chính phủ: Các cơ quan chính phủ thực hiện việc quản lý kinh tế - xã hội bằng nhiều công cụ kinh tế khác nhau, cụ thể là ban hành các điều luật quy định thực hiện. Do đó, trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định nào thì ngân hàng cũng cần phải xem xét các quy định của Chính phủ.
Điều dễ nhận thấy nhất đó là việc quy định mức vốn pháp định hay vốn điều lệ tối thiểu của các loại hình ngân hàng. Các chính sách về thuế cũng tác động đến việc tạo lập vốn của các ngân hàng thông qua ảnh hưởng đến chi phí nợ vay. - Sự phát triển của thị trường tài chính: Thị trường tài chính là nơi mà các ngân hàng có thể thu hút hay tạo lập vốn một cách nhanh chóng và hiệu quả. Tuy nhiên, một thị trường tài chính phát triển đòi hỏi tất cả thông tin phải được công khai, minh bạch và có sự cạnh tranh công bằng giữa các ngân hàng với sự can thiệp của Chính phủ là thấp nhất.
Với một thị trường phát triển sẽ góp phần tạo tính thanh khoản cho chứng khoán làm tăng khả năng huy động vốn của ngân hàng. Ngược lại, với một thị trường tài chính kém phát triển thì chứng khoán khó lưu hành hơn, ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các ngân hàng. Các nhân tố chủ quan - Mục đích sử dụng vốn hay chiến lược đầu tư: Với bất kỳ một hoạt động nào cũng cần phải có mục đích và kỳ vọng của hoạt động đó. Các ngân hàng xác định cho việc tạo lập vốn của mình nhằm tài trợ cho khoản mục nào.
Tùy thuộc vào tính chất và đặc điểm của từng khoản mục mà ngân hàng sẽ có hướng tạo lập vốn và đầu tư thích hợp. 123doc 7 Tuy nhiên, ngân hàng nào cũng là tổng hòa các mối quan hệ, hoạt động kinh doanh diễn ra theo một quá trình, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa nhiều yếu tố. Do đó, ngân hàng cần có chiến lược đầu tư toàn diện. Điều này cũng hết sức quan trọng ảnh hưởng đến việc tạo lập vốn của ngân hàng.
- Cơ cấu vốn: đây là cách mà mỗi ngân hàng thực hiện nhằm phân chia nguồn vốn của mình trong quá trình sử dụng. Yêu cầu đặt ra cho mỗi ngân hàng là phải làm sao xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý trong từng giai đoạn phát triển của ngân hàng. - Hiệu quả của việc sử dụng vốn: Sử dụng vốn và tạo lập vốn có mối quan hệ tác động qua lại, sử dụng vốn có ý nghĩa quyết định đến hoạt động tạo lập vốn của ngân hàng, còn tạo lập vốn là cơ sở để có các quyết định sử dụng vốn.