Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức

Luận văn thạc sĩ y tế nghiên cứu quản lý tài sản công tại bệnh viện hữu nghị việt đức, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức

Quản lý tài sản công tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức là một vấn đề quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động của bệnh viện. Tài sản công không chỉ bao gồm trang thiết bị y tế mà còn là các nguồn lực khác phục vụ cho công tác khám chữa bệnh. Việc quản lý hiệu quả tài sản công sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và giảm thiểu lãng phí.

1.1. Khái Niệm Về Tài Sản Công Tại Bệnh Viện

Tài sản công tại bệnh viện được định nghĩa là những tài sản thuộc sở hữu nhà nước, được hình thành từ ngân sách nhà nước và phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh. Điều này bao gồm cả trang thiết bị y tế và cơ sở hạ tầng.

1.2. Vai Trò Của Quản Lý Tài Sản Công Trong Y Tế

Quản lý tài sản công đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế chất lượng. Nó giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài sản, giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh.

II. Thực Trạng Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức

Thực trạng quản lý tài sản công tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Nhiều thiết bị y tế chưa được sử dụng hiệu quả, dẫn đến lãng phí lớn. Việc kiểm soát và theo dõi tài sản cũng chưa được thực hiện một cách đồng bộ.

2.1. Đánh Giá Hiện Trạng Sử Dụng Tài Sản Công

Nhiều thiết bị y tế tại bệnh viện chưa được sử dụng hết công suất, gây lãng phí tài nguyên. Việc này ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế mà bệnh viện cung cấp.

2.2. Những Hạn Chế Trong Quản Lý Tài Sản Công

Hạn chế trong quản lý tài sản công bao gồm việc thiếu hệ thống theo dõi, kiểm soát tài sản và sự chậm trễ trong việc bảo trì, sửa chữa thiết bị y tế.

III. Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức cần áp dụng một số giải pháp cụ thể. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện tình hình hiện tại mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

3.1. Đề Xuất Các Giải Pháp Quản Lý Hiệu Quả

Cần xây dựng hệ thống quản lý tài sản công chặt chẽ, bao gồm việc theo dõi, kiểm soát và bảo trì thiết bị y tế thường xuyên.

3.2. Đào Tạo Nhân Lực Về Quản Lý Tài Sản

Đào tạo nhân viên y tế về quản lý tài sản công sẽ giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng trong việc sử dụng và bảo trì thiết bị y tế.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện

Việc áp dụng các giải pháp quản lý tài sản công tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công sẽ giúp bệnh viện phục vụ tốt hơn cho bệnh nhân.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Quản Lý Tài Sản

Các giải pháp quản lý tài sản công đã giúp giảm thiểu lãng phí và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Từ Quản Lý Tài Sản

Bệnh viện cần rút ra bài học từ những hạn chế trong quản lý tài sản để cải thiện quy trình và nâng cao hiệu quả trong tương lai.

V. Kết Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức

Quản lý tài sản công tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức là một nhiệm vụ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ y tế. Cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Quản Lý Tài Sản Công

Tương lai của quản lý tài sản công tại bệnh viện sẽ phụ thuộc vào việc áp dụng công nghệ và cải tiến quy trình quản lý.

5.2. Định Hướng Phát Triển Quản Lý Tài Sản

Bệnh viện cần định hướng phát triển quản lý tài sản công theo hướng bền vững, đảm bảo phục vụ tốt nhất cho nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.

28/06/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý tài sản công tại bệnh viện hữu nghị việt đức

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁC BỆNH VIỆN 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công 1.1 Khái niệm và đặc điểm về tài sản công 1.1 Khái niệm Ở Pháp, “Tài sản quốc gia được hiểu là toàn bộ tài sản và quyền hạn đối với động sản và bất động sản thuộc về Nhà nước” (Điều 1 Bộ luật Tài sản nhà nước năm 1998). Ở Việt Nam, Điều 17 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”. Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước như sau: "Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi từ nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định". Tiếp đó, tại các Điều 239, 240, 241, 246, 254 và 644 của Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 17 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Điều 35 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã quy định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước do pháp luật quy định bao gồm: Các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, vật chứng trong vụ án hình sự bị tịch thu sung quỹ Nhà nước; vật bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy, vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật do người khác đánh rơi, bỏ quên được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật, di sản không người thừa kế hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu tặng Chính phủ hoặc tổ chức Nhà nước.

7 Theo Điều 3, Luật Tài sản công ban hành năm 2017 thì “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác”. Như vậy, tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật.2 Đặc điểm tài sản công Tài sản công rất phong phú về số lượng chủng loại, mỗi loại tài sản có đặc điểm, tính chất, công dụng khác nhau song chúng đều có những đặc điểm chung sau: Thứ nhất: Tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng kinh phí của ngân sách nhà nước, có nguồn từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn vốn đầu tư khác (trừ một số tài sản đặc biệt như: đất đai, tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước được chuyển giao). Bên cạnh đó là những tài sản được hình thành từ nguồn viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp xây dựng và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Đối với tài sản này, ngân sách nhà nước không trực tiếp đầu tư xây dựng và mua sắm mà chỉ giao tài sản cho các cơ quan sử dụng.

Nhưng các tài sản này trước khi giao cho các bệnh viện sử dụng, đều phải xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Khi các tài sản này được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu cho ngân sách nhà nước. Như vậy, suy cho cùng các tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp giao cho các cơ quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn gốc hình thành từ ngân sách Nhà nước. Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, tài sản công chỉ đơn thuần là điều kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tài sản công của các cơ quan này lớn nhất là trụ sở làm việc (công trường), các phương tiện giao thông vận tải phục vụ đi lại công tác, các trang thiết bị, máy móc và phương tiện làm việc. Số lượng tài sản công cần phải có tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế cán 8 bộ, công chức, viên chức của mỗi cơ quan, đơn vị. Thứ ba: Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản công không thu hồi được trong quá trình sử dụng tài sản công.

Thực tế các nước trên thế giới cho thấy khoảng 80% chi NSNN là chi chuyển giao và có rất ít khoản chi là chi thanh toán, được hoàn trả trực tiếp. Khác với doanh nghiệp kinh doanh, tài sản công trong cơ quan chủ yếu là những tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải vật chất, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh; trong quá trình sử dụng không tạo ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đưa ra thị trường; do đó, không chuyển giá trị bị hao mòn vào giá thành của sản phẩm hoặc chi phí lưu thông. Vì thế, trong quá trình sử dụng, tuy tài sản bị hao mòn nhưng không trích khấu hao được (đối với tài sản cố định), vì giá trị của nó không được chuyển dần sang giá trị của sản phẩm vật chất, dịch vụ để hình thành bộ phận giá trị mới cần phải thu hồi. Do không thực hiện trích khấu hao tài sản cố định, nên nguồn vốn đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản không thu hồi được trong quá trình sử dụng và không có nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước trong việc sử dụng.

Mức độ hao mòn của tài sản công trong quá trình sử dụng nhanh hay chậm không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cơ quan nhà nước được thụ hưởng, Nhà nước không sử dụng đòn bẩy trích khấu hao tài sản cố định để thúc đẩy các cơ quan bảo vệ tài sản công như đối với các tổ chức kinh tế sử dụng tài sản vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước chỉ có thể buộc các cơ quan này quản lý và sử dụng tài sản công tiết kiệm và hiệu quả bằng các biện pháp hành chính như quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công, cùng với biện pháp quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu về duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công để buộc các cơ quan đơn vị sử dụng tài sản hiệu quả hơn.2 Các chính sách Quốc gia về tài sản công Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng là cơ sở vật chất quan trọng để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cho xã hội, đồng thời là nguồn lực to lớn góp phần bảo đảm và nâng cao tự chủ tài chính của các đơn vị. Đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng nhằm quản lý chặt chẽ và khai thác có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công là giải pháp quan trọng để thực hiện thành công Nghị quyết 19/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương. Theo thống kê của Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDL) về tài sản nhà nước đến 30/9/2017, tổng nguyên giá của 4 loại tài sản lớn (nhà, đất, xe ô tô, tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên) tại đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) 9 (chưa bao gồm các ĐVSNCL thuộc lực lượng vũ trang nhân dân) là: 326.112 tài sản (chiếm 64,19% tổng số lượng tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp), với tổng nguyên giá là 792.968,26 tỷ đồng (chiếm 72,60% tổng giá trị tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp); trong đó, quyền sử dụng đất là 524.410,22 tỷ đồng, nhà là 193.871,71 tỷ đồng và tài sản khác là 74.

Trong thời gian qua, cơ chế và công tác quản lý, sử dụng tài sản công tại các ĐVSNCL đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhà nước đã xây dựng, ban hành tương đối đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công, tạo hành lang pháp lý để đổi mới công quản lý, sử dụng tài sản công tại ĐVSNCL. Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức đánh giá tình hình triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008; Rà soát hệ thống pháp luật hiện hành có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản công; Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, xây dựng dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của luật, các nhà khoa học, các chuyên gia. trên cơ sở đó, báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội.

Ngày 21/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Quản lý, sử dụng tài sản công để thay thế cho Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Với việc ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, cơ chế quản lý tài sản công tại ĐVSNCL tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ với nhiều nội dung. Chính sách quản lý tài sản công của Nhà nước bao gồm các nội dung cụ thể như sau: - Nhà nước có chính sách đầu tư, khai thác và bảo vệ tài sản công.

Đối với chính sách đầu tư, tài sản công của các đơn vị ngoài việc hình thành từ nguồn NSNN cấp phát trực tiếp còn được hình thành từ các nguồn khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức: Thực Trạng và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý tài sản công tại bệnh viện này, nêu bật những thách thức hiện tại và đề xuất các giải pháp khả thi để cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về thực trạng quản lý tài sản công trong lĩnh vực y tế mà còn mang lại những lợi ích thiết thực cho các nhà quản lý và chuyên gia trong ngành.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lí tài sản công tại bệnh viện hữu nghị việt đức, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về các phương pháp quản lý tài sản. Ngoài ra, tài liệu Luận văn quản lý tài sản công tại bệnh viện đa khoa huyện sóc sơn thành phố hà nội cũng sẽ giúp bạn so sánh và đối chiếu các phương pháp quản lý tài sản công tại các cơ sở y tế khác nhau. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Hiệu quả sử dụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế thuộc thành phố hà nội để nắm bắt các chiến lược tối ưu trong việc quản lý tài sản công. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý tài sản công trong ngành y tế.