Quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc đại học quốc gia hà nội theo quan điểm tự chủ

Chuyên khảo kinh tế phân tích Quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc đại học quốc gia hà nội theo quan điểm, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

196
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP THEO QUAN ĐIỂM TỰ CHỦ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Các nghiên cứu về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập

1.3. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập và trong trường đại học công lập

1.4. Các nghiên cứu về tự chủ đại học, tự chủ tài chính trong các trường đại học công lập

1.5. Khoảng trống nghiên cứu

1.6. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.6.1. Trường đại học công lập; Tự chủ đại học

1.6.2. Tài chính; Hoạt động tài chính trong trường đại học công lập

1.6.3. Quản lý hoạt động tài chính; Tự chủ tài chính trong trường đại học công lập

1.6.4. Hoạt động tài chính và tự chủ tài chính trong trường đại học công lập

1.6.5. Mô hình, bộ máy tổ chức của trường đại học công lập

1.6.6. Hoạt động tài chính trong trường đại học công lập theo quan điểm tự chủ

1.6.7. Một số vấn đề về tự chủ đại học và tự chủ tài chính trong trường đại học công lập

1.7. Quản lý hoạt động tài chính trong trường đại học công lập theo quan điểm tự chủ

1.7.1. Mục tiêu của quản lý hoạt động tài chính trong trường đại học công lập theo quan điểm tự chủ

1.7.2. Nội dung quản lý hoạt động tài chính trong trường đại học công lập theo quan điểm tự chủ

1.7.3. Các tiêu chí đánh giá quản lý hoạt động tài chính trong trường đại học công lập theo quan điểm tự chủ

1.7.4. Cơ chế phân cấp quản lý hoạt động tài chính trong trường đại học công lập theo quan điểm tự chủ

1.7.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động tài chính trong trường đại học công lập theo quan điểm tự chủ

1.7.5.1. Yếu tố khách quan
1.7.5.2. Yếu tố chủ quan

1.8. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI THEO QUAN ĐIỂM TỰ CHỦ

2.1. Kinh nghiệm của một số nước về tự chủ tài chính và quản lý hoạt động tài chính giáo dục đại học

2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

2.1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan

2.1.3. Kinh nghiệm của Nhật Bản

2.1.4. Kinh nghiệm của Mỹ

2.1.5. Một số bài học cho Việt Nam

2.2. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội và các trường đại học thành viên

2.2.1. Quá trình hình thành, phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội

2.2.2. Quá trình hình thành và phát triển một số trường đại học thành viên

2.2.3. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của ĐHQGHN và các trường đại học thành viên

2.2.4. Các hoạt động tại ĐHQGHN và các trường đại học thành viên

2.3. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

2.3.1. Mục đích khảo sát

2.3.2. Nội dung khảo sát

2.3.3. Mẫu và đối tượng khảo sát

2.3.4. Phương thức khảo sát

2.3.5. Cách xử lí số liệu và thang đánh giá

2.3.6. Thời gian khảo sát

2.3.7. Kết quả khảo sát thực trạng

2.3.7.1. Thực trạng hoạt động tài chính và tự chủ tài chính
2.3.7.2. Thực trạng quản lý hoạt động tài chính theo quan điểm tự chủ
2.3.7.3. Thực trạng về cơ chế phân cấp quản lý hoạt động tài chính theo quan điểm tự chủ
2.3.7.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý tài chính theo quan điểm tự chủ

2.3.8. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động tài chính tại ĐHQGHN và các trường đại học thành viên theo quan điểm tự chủ

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC ĐHQGHN THEO QUAN ĐIỂM TỰ CHỦ

3.1. Bối cảnh hiện nay của giáo dục đại học và nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

3.1.1. Bối cảnh giáo dục đại học hiện nay

3.1.2. Nguyên tắc đề xuất giải pháp

3.2. Các giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc ĐHQGHN theo quan điểm tự chủ

3.2.1. Giải pháp 1: Chỉ đạo cập nhật các thông tin về quản lý tài chính theo quan điểm tự chủ cho các chủ thể quản lý và các bên liên quan

3.2.2. Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện công việc một cách có hệ thống theo quan điểm tự chủ

3.2.3. Giải pháp 3: Hoàn thiện Qui chế chi tiêu nội bộ theo quan điểm tự chủ

3.2.4. Giải pháp 4: Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa trong quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động tài chính theo quan điểm tự chủ

3.2.5. Giải pháp 5: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiệp vụ tài chính theo quan điểm tự chủ cho các đối tượng có liên quan

3.2.6. Giải pháp 6: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động tài chính trong mỗi nhà trường

3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp được đề xuất

3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất

3.4.1. Mục đích, nội dung, đối tượng, phương pháp khảo nghiệm mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp

3.4.2. Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết của các giải pháp

3.4.3. Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các giải pháp

3.4.4. So sánh tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp

3.5. Tổ chức thử nghiệm giải pháp

3.5.1. Mục đích thử nghiệm

3.5.2. Giới hạn thử nghiệm

3.5.3. Nội dung thử nghiệm

3.5.4. Cách tiến hành thử nghiệm

3.5.5. Đánh giá kết quả thử nghiệm

3.5.6. Đánh giá tại khóa bồi dưỡng tập huấn về nâng cao năng lực nghiệp vụ quản lý tài chính theo quan điểm tự chủ tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP

3.6. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Quản lý tài chính tự chủ ĐHQGHN Tổng quan Xu hướng

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tự chủ đại học trở thành xu thế tất yếu. Đây được xem là chìa khóa để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Tự chủ đại học mở rộng quyền tự quyết định cho các trường trong các hoạt động đào tạo, nhân sự, tài chính, và hành chính. Các trường ngày càng tự chủ hơn trong tuyển sinh, mở ngành, nghiên cứu, liên doanh, liên kết, và đầu tư cơ sở vật chất. Mức độ tự chủ và trách nhiệm giải trình phản ánh sự phát triển của trường. Theo xu thế, mức độ tự chủ tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam ngày càng cao, trong đó việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và khai thác nguồn thu đã được thể chế hóa. Nhà nước dần cắt giảm nguồn ngân sách chi thường xuyên để nâng cao tính cạnh tranh, buộc các trường phải phát huy hết tiềm lực để mở rộng qui mô, đa dạng hóa hoạt động đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.

1.1. Tầm quan trọng của tự chủ tài chính đại học

Tự chủ tài chính không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước mà còn mở ra cơ hội cho các trường đại học phát huy tính chủ động, sáng tạo trong khai thác và sử dụng nguồn lực, thúc đẩy phát triển đáp ứng trình độ quốc tế. Tăng cường quyền tự chủ, đặc biệt là tự chủ tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính để nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo và phát triển nhà trường.

1.2. Quản lý tài chính tự chủ gắn liền chất lượng đào tạo

Quản lý hoạt động tài chính theo quan điểm tự chủ không đơn thuần là thắt chặt thu chi mà cần gắn với nâng cao chất lượng đào tạo đại học, từ đó nâng cao chất lượng nguồn lực và hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường. Tùy theo điều kiện của từng trường, từng ngành đào tạo mà cần có mức độ tự chủ tài chính khác nhau và cần phải thực hiện trách nhiệm giải trình đối với xã hội.

II. Thách thức Hạn chế Quản lý Tài chính tại ĐHQGHN

Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) được thành lập theo Nghị định riêng của Chính phủ, là đơn vị dự toán cấp 1, là đầu mối được giao kế hoạch và dự toán ngân sách, có quyền tự chủ cao trong các hoạt động. Công tác quản lý tài chính tại ĐHQGHN và các trường thành viên hoạt động theo qui định của Nhà nước và theo qui chế của ĐHQGHN. Mặc dù Nhà nước đã ban hành các văn bản về thực hiện tự chủ, công tác quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học công lập nói chung và ĐHQGHN nói riêng vẫn còn bộc lộ những bất cập và hạn chế. Theo tài liệu nghiên cứu, quản lý hoạt động tài chính vẫn chưa thực sự góp phần thúc đẩy phát triển nhân tài, phát huy năng lực đội ngũ trong hoạt động nghiên cứu.

2.1. Thiếu hệ thống nghiên cứu về Quản lý Tài chính

Thực tế, các nghiên cứu về tự chủ và quản lý hoạt động tài chính đã có từ lâu, tuy nhiên mỗi nghiên cứu lại có cách tiếp cận khác nhau. Hầu hết các nghiên cứu về tự chủ và tài chính chỉ được nghiên cứu một cách riêng lẻ mà chưa xuất hiện các nghiên cứu có tính hệ thống, đầy đủ về vấn đề quản lý hoạt động tài chính trong điều kiện tự chủ trong mối quan hệ với hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Cần gắn quản lý hoạt động tài chính với việc phát triển nhà trường.

2.2. Bất cập trong quản lý tài chính dù đã tự chủ

Mặc dù nhà nước đã ban hành các văn bản về thực hiện tự chủ nhưng công tác quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học công lập nói chung và Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng vẫn còn bộc lộ những bất cập và hạn chế. Quản lý hoạt động tài chính vẫn chưa thực sự góp phần thúc đẩy phát triển nhân tài, phát huy năng lực đội ngũ trong hoạt động nghiên cứu.

III. Cách Quản lý Tài chính Hiệu quả tại ĐHQGHN Giải pháp

Để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội theo quan điểm tự chủ, luận án này đề xuất các giải pháp dựa trên nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng. Mục tiêu là sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác nhau, phục vụ tốt hơn cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nghiên cứu khoa học, và thúc đẩy phát triển toàn diện nhà trường, đáp ứng mục tiêu đã đặt ra. Các giải pháp này tập trung vào việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý tài chính, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của ĐHQGHN.

3.1. Nâng cao nhận thức về Quản lý tài chính tự chủ

Chỉ đạo cập nhật các thông tin về quản lý tài chính theo quan điểm tự chủ cho các chủ thể quản lý và các bên liên quan. Việc này giúp đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đều hiểu rõ về các quy định, chính sách mới nhất, và cách thức áp dụng chúng vào thực tế. Điều này sẽ tạo ra một môi trường làm việc minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm.

3.2. Xây dựng Kế hoạch Quản lý Tài chính có hệ thống

Xây dựng kế hoạch thực hiện công việc một cách có hệ thống theo quan điểm tự chủ. Điều này bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, và nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. Kế hoạch cần được xây dựng một cách chi tiết, cụ thể, và có tính khả thi cao, đồng thời phải được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với tình hình thực tế.

3.3. Hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ theo hướng Tự chủ

Hoàn thiện Qui chế chi tiêu nội bộ theo quan điểm tự chủ. Qui chế chi tiêu nội bộ cần được xây dựng một cách rõ ràng, minh bạch, và công bằng, đảm bảo rằng tất cả các hoạt động chi tiêu đều được thực hiện một cách hợp lý, hiệu quả và tuân thủ các quy định của pháp luật.

IV. Bí quyết Quản lý Tài chính minh bạch tại ĐHQGHN

Tính minh bạch trong quản lý tài chính là yếu tố then chốt để tạo dựng lòng tin và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực. Các giải pháp tập trung vào việc công khai hóa thông tin, kiểm tra, thanh tra, và giám sát hoạt động tài chính theo quan điểm tự chủ, giúp tăng cường trách nhiệm giải trình và ngăn ngừa các hành vi sai phạm. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực nghiệp vụ tài chính cho đội ngũ cán bộ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính.

4.1. Thực hiện công khai hóa minh bạch hóa tài chính

Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa trong quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động tài chính theo quan điểm tự chủ. Điều này bao gồm việc công khai các thông tin về thu nhập, chi tiêu, và các hoạt động tài chính khác của nhà trường trên các phương tiện thông tin đại chúng.

4.2. Tăng cường kiểm tra giám sát quản lý tài chính

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động tài chính tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHQGHN. Điều này nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm cả sinh viên và phụ huynh, vào quá trình giám sát.

4.3. Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ tài chính cho cán bộ

Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiệp vụ tài chính theo quan điểm tự chủ cho các đối tượng có liên quan. Việc này giúp đảm bảo rằng đội ngũ cán bộ tài chính có đủ kiến thức, kỹ năng để thực hiện tốt công việc của mình, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý tài chính trong bối cảnh tự chủ.

V. Ứng dụng CNTT để Quản lý Tài chính ĐHQGHN hiệu quả

Trong kỷ nguyên số, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản lý hoạt động tài chính là yếu tố không thể thiếu để nâng cao hiệu quả và minh bạch. Các giải pháp tập trung vào việc số hóa quy trình, sử dụng phần mềm quản lý tài chính hiện đại, và xây dựng hệ thống thông tin báo cáo trực tuyến, giúp giảm thiểu sai sót, tiết kiệm thời gian, và cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho các nhà quản lý. Việc này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả quản lý tài chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định và kiểm soát rủi ro.

5.1. Đẩy mạnh số hóa quy trình quản lý tài chính

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động tài chính trong mỗi nhà trường. Điều này bao gồm việc sử dụng các phần mềm quản lý tài chính, hệ thống báo cáo trực tuyến, và các công cụ khác để tự động hóa các quy trình, giảm thiểu sai sót, và tăng cường tính minh bạch.

5.2. Xây dựng hệ thống thông tin báo cáo trực tuyến

Xây dựng hệ thống thông tin báo cáo trực tuyến cho phép các nhà quản lý có thể truy cập và theo dõi tình hình tài chính của nhà trường một cách nhanh chóng, chính xác. Hệ thống này cần được thiết kế một cách thân thiện, dễ sử dụng, và có khả năng tùy biến cao để đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng trường.

5.3. Đảm bảo an ninh mạng trong quản lý tài chính

Đảm bảo an ninh mạng cho hệ thống quản lý tài chính của nhà trường. Điều này bao gồm việc sử dụng các biện pháp bảo mật như mã hóa dữ liệu, tường lửa, và hệ thống phát hiện xâm nhập để ngăn chặn các cuộc tấn công mạng và bảo vệ thông tin tài chính quan trọng.

VI. Kết luận Tự chủ tài chính tương lai ĐHQGHN

Luận án này đã trình bày một cách hệ thống và toàn diện về vấn đề quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội theo quan điểm tự chủ. Các giải pháp được đề xuất, nếu được triển khai một cách đồng bộ và hiệu quả, sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ĐHQGHN. Tự chủ tài chính không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để các trường đại học thuộc ĐHQGHN vươn lên, khẳng định vị thế trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và trên thế giới.

6.1. Tầm quan trọng của việc thực hiện đồng bộ giải pháp

Để các giải pháp được đề xuất đạt hiệu quả cao nhất, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các trường đại học thành viên, các đơn vị chức năng của ĐHQGHN, và các cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, cần có sự tham gia tích cực của đội ngũ cán bộ, giảng viên, và sinh viên trong quá trình triển khai.

6.2. Tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh giải pháp

Các giải pháp được đề xuất trong luận án chỉ là bước khởi đầu. Cần tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh các giải pháp này để phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển của ĐHQGHN. Đồng thời, cần chú trọng đến việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp để có những điều chỉnh kịp thời.

14/05/2025
Quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học thuộc đại học quốc gia hà nội theo quan điểm tự chủ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP THEO QUAN ĐIỂM TỰ CHỦ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Các công trình nghiên cứu nước ngoài về tài chính đơn vị sự nghiệp công phải kể đến cuốn sách về tài chính công của tác giả Alan (1979). Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công đã được tác đề cập một cách khá chi tiết và cụ thể.

Một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã được tác giả đưa ra giả phân tích và lồng ghép vào trong các nội dung lý thuyết [3]. Tài liệu về tài chính công của tác giả Holley (2007) lại đề cập tới những vấn đề mang tính thực tiễn ở Mỹ. Trong nghiên cứu đó, khi đưa các vấn đề thực tiễn về tài chính vào phân tích tác giả cũng đưa lồng ghép vào các vấn đề về giáo dục công lập và tài chính cho giáo dục công lập [9]. Tác giả Anwar Shah (2011) đã trình bày trong cuốn sách của mình các khái niệm, lý thuyết về phương pháp lập ngân sách, cải cách chi tiêu công và kinh nghiệm về quản lý tài chính của các nước.

Theo tác giả, hiệu quả, hiệu lực, tính công bằng cùng với việc mở rộng sự tham gia của người dân, tăng tính công khai minh bạch, và trách nhiệm giải trình là những giá trị cốt lõi của một nền quản trị công hiện đại, dân chủ mà nhiều quốc gia trên thế giới đang nỗ lực xây dựng. Cuốn sách trình bày một cách súc tích, cô đọng những khái niệm cơ bản thuộc lý thuyết quản trị công, tài khóa, ngân sách cũng như các chỉ dẫn rất thực tế về những thông lệ, những điểm mạnh mà các quốc gia có thể xem xét khả năng áp dụng đồng thời phân tích mổ xẻ những sai lầm, yếu kém và các bài học tiêu biểu cũng như bối cảnh của chúng để các nước đi sau có thể tham khảo. Các hướng dẫn về khái niệm và bài học thực tế và học hỏi kinh nghiệm giữa các nước về ý tưởng và thực tiễn quản trị công mang tính đáp ứng, trách nhiệm và giải trình tại các nước phát triển. Người làm quản lý có thể tham khảo các phương pháp quản lý trên để áp dụng linh hoạt vào quản lý tài chính của đơn vị [1].

Cuốn sách của tác giả Sử Đình Thành (2003), đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về tài chính công, phân tích về quản lý chi tiêu công, về các chính sách công và nêu ra những quan điểm, những giải pháp đổi mới chính sách công ở Việt Nam. 7 Tác giả đã đề cập tới một số mô hình lý thuyết cũng như công cụ được sử dụng để tác động tới nền kinh tế như cung cấp hàng hoá tối ưu, phân cấp tài khoá, phân tích lợi ích và chi phí; hiệu quả và hiệu suất. Qua đó người đọc có được cái nhìn tổng quát về các vấn đề tài chính công, các kỹ năng phân tích đánh giá tác động của chính sách tài chính công đến việc sử dụng, phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả [81]. Tài liệu của hai tác giả Trần Văn Tá và Bạch Thị Minh Huyền (1996) đã đề cập tới các các vấn đề về tài chính công, cải cách tài chính công, nội dung của tài chính công và tác động của nó tới việc cải cách nền hành chính của Việt Nam.

Các tác giả đã mang đến cho người đọc lượng kiến thức lớn về khái niệm, cơ chế, chính sách tài chính quốc gia và các giải pháp tài chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội [80]. Tài liệu của tác giả Phan Thị Cúc (2004) đã đề cập riêng một nội dung về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu. Tác giả đã trình bày rất chi tiết về cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, những tồn tại trong quá trình thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công, cũng như các nguồn lực đảm bảo chi của các đơn vị sự nghiệp [27]. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập và trong trường đại học công lập.

Các tài liệu nước ngoài nghiên cứu về quản lý hoạt động tài chính đơn vị sự nghiệp công lập và trường đại học công lập phải kể đến là cuốn sách của các tác giả Morgan, Eric and Powle, Malcolm (2004). Các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về tài chính, quản lý tài chính và phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học, đồng thời đưa ra các chiến lược kinh doanh để thu hút được nguồn lực và việc kiểm soát tài chính trong lĩnh vực giáo dục đại học của vương quốc Anh [14]. Tài liệu của tác giả Malcolm, P. (2005) đã nghiên cứu những ảnh hưởng của các điều kiện chính trị, văn hoá, kinh tế - xã hội tới quản lý tài chính của cơ sở giáo dục trong khu vực Châu Á, vai trò của việc hỗ trợ tài chính cũng như tác động của cơ chế chính sách của nhà nước đối với giáo dục đại học quốc gia.

Singapore và Malaysia được nghiên cứu như những điển hình khá thành công trong việc đưa nền giáo dục quốc gia đặc biệt là giáo dục đại học hội nhập tích cực, chủ động vào thế giới [15]. Nghiên cứu của tác giả Sulochana (1991) nhấn mạnh sự tham gia tích cực 8 của Ấn Độ vào thương mại dịch vụ giáo dục, sự thành công trong việc cung cấp giáo dục đại học cho người dân thông qua các nhà cung cấp công, tư nhân, và nước ngoài. Ấn Độ cũng đang củng cố năng lực xuất khẩu với sự trợ giúp của các nhà cung cấp nước ngoài, đặc biệt coi trọng việc quản lý tài chính trong giáo dục đại học, coi đây là nền tảng của sự phát triển kinh tế xã hội, đều hướng tới nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu của lĩnh vực này nhằm làm nền tảng cho sự tham gia của họ vào hoạt động xuyên biên giới. Cho đến nay, Ấn Độ vẫn tiếp tục thực hiện hoàn thiện mô hình quản lý tài chính theo mục đích này và xây dựng được cơ chế điều chỉnh phù hợp trong hoạt động quản lý giáo dục [19].

Tại Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu về quản lý hoạt động tài chính đơn vị sự nghiệp công và trường đại học công lập phải kể đến là cuốn sách của tác giả Phạm Minh Hạc (2002). Trong đó, tác giả đi sâu giới thiệu nền giáo dục của một số nước như Đức, Pháp, Hoa kì, Hàn quốc, Malaysia, Indonesia. Các vấn đề liên quan tới quản lý giáo dục, cải cách giáo dục và quản lý nguồn tài chính trong giáo dục của các nước cũng được tác giả đề cập tới. Đây là tài liệu hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, những người công tác trong ngành giáo dục, các học viên, nghiên cứu sinh đang nghiên cứu về vấn đề này [48].

Bài viết của tác giả Phạm Thị Ly (2011) đã trình bày tổng quát về những xu hướng quốc tế trong việc cung cấp tài chính cho hoạt động của đại học, vai trò của cơ chế giải trình trách nhiệm trong giải quyết mối tương quan giữa học phí và chất lượng đào tạo. Cơ chế giải trình trách nhiệm vừa là một động lực giúp cải thiện chất lượng hoạt động bên trong, vừa là một phương tiện minh chứng với bên ngoài về chất lượng hoạt động của nhà trường. Nếu như cơ chế giải trình trách nhiệm được thực hiện nghiêm túc thông qua những định chế thích hợp thì nhiều khả năng là nguồn lực của nhà trường sẽ được sử dụng một cách hiệu quả hơn cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển [55]. Một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động tài chính đơn vị sự nghiệp công lập phải kể đến là các luận án tiến sĩ.

Các nghiên cứu của các tác giả Đặng Văn Du (2004), Lê Phước Minh (2005), Vũ Thị Thanh Thủy (2012) đã đi phân tích khá kỹ về các chính sách tài chính cho giáo dục đại học, việc đầu tư tài chính cho giáo dục đào tạo đại học. Các tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính giáo dục đại học và nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính giáo dục đại học. Tuy nhiên, phạm vi và đối tượng 9 nghiên cứu của các đề tài này tập trung vào chính sách giáo dục đại học và hiệu quả đầu tư tài chính đối với giáo dục đại học nói chung cho nên là khá rộng nên nó có tính chất tham khảo đối với các trường đại học công lập [45] [58] [86]. Các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông phải kể đến luận án của các tác giả Phan Văn Sỹ (2015) và Nguyễn Thị Vân Anh (2015).

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu và phân tích tình hình thực trạng về cơ chế quản lý tài chính trong giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh khu vực Tây Bắc, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho giáo dục phổ thông ở Hà Nội và khu vực Tây Bắc. Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu là các trường trung học phổ thông, hơn nữa cơ chế quản lý tài chính của giáo dục phổ thông lại có nhiều điểm khác so với giáo dục đại học nên không thể áp dụng hết vào cho giáo dục đại học [77][1]. Các nghiên cứu về quản lý tài chính ở ĐHQGHN phải kể tới luận án của tác giả Phạm Văn Ngọc (2007), Nguyễn Thị Hương (2014) và Nguyễn Anh Thái (2012). Các nghiên cứu này đã miêu tả một cách khá đầy đủ về cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN trong bối cảnh nền giáo dục đại học của Việt Nam đang có nhiều thay đổi.

Các tác giả đã đưa ra các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho ĐHQGHN nhằm đáp ứng mục tiêu, sứ mạng về đào tạo nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Tuy nhiên, các tác giả chưa đi sâu vào phân tích việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong ĐHQGHN và các điều kiện để đảm bảo thực hiện tính tự chủ đó. Mặt khác các luận án này được thực hiện khi Nghị định 16/2019NĐ - CP và Nghị định 60/2020/NĐ-CP chưa ra đời nên công tác tài chính trong các trường đại học thành viên vẫn còn bị bó hẹp và chưa có tính tự chủ cao [69] [49] [87].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ