CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP THEO QUAN ĐIỂM TỰ CHỦ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Các công trình nghiên cứu nước ngoài về tài chính đơn vị sự nghiệp công phải kể đến cuốn sách về tài chính công của tác giả Alan (1979). Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công đã được tác đề cập một cách khá chi tiết và cụ thể.
Một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã được tác giả đưa ra giả phân tích và lồng ghép vào trong các nội dung lý thuyết [3]. Tài liệu về tài chính công của tác giả Holley (2007) lại đề cập tới những vấn đề mang tính thực tiễn ở Mỹ. Trong nghiên cứu đó, khi đưa các vấn đề thực tiễn về tài chính vào phân tích tác giả cũng đưa lồng ghép vào các vấn đề về giáo dục công lập và tài chính cho giáo dục công lập [9]. Tác giả Anwar Shah (2011) đã trình bày trong cuốn sách của mình các khái niệm, lý thuyết về phương pháp lập ngân sách, cải cách chi tiêu công và kinh nghiệm về quản lý tài chính của các nước.
Theo tác giả, hiệu quả, hiệu lực, tính công bằng cùng với việc mở rộng sự tham gia của người dân, tăng tính công khai minh bạch, và trách nhiệm giải trình là những giá trị cốt lõi của một nền quản trị công hiện đại, dân chủ mà nhiều quốc gia trên thế giới đang nỗ lực xây dựng. Cuốn sách trình bày một cách súc tích, cô đọng những khái niệm cơ bản thuộc lý thuyết quản trị công, tài khóa, ngân sách cũng như các chỉ dẫn rất thực tế về những thông lệ, những điểm mạnh mà các quốc gia có thể xem xét khả năng áp dụng đồng thời phân tích mổ xẻ những sai lầm, yếu kém và các bài học tiêu biểu cũng như bối cảnh của chúng để các nước đi sau có thể tham khảo. Các hướng dẫn về khái niệm và bài học thực tế và học hỏi kinh nghiệm giữa các nước về ý tưởng và thực tiễn quản trị công mang tính đáp ứng, trách nhiệm và giải trình tại các nước phát triển. Người làm quản lý có thể tham khảo các phương pháp quản lý trên để áp dụng linh hoạt vào quản lý tài chính của đơn vị [1].
Cuốn sách của tác giả Sử Đình Thành (2003), đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về tài chính công, phân tích về quản lý chi tiêu công, về các chính sách công và nêu ra những quan điểm, những giải pháp đổi mới chính sách công ở Việt Nam. 7 Tác giả đã đề cập tới một số mô hình lý thuyết cũng như công cụ được sử dụng để tác động tới nền kinh tế như cung cấp hàng hoá tối ưu, phân cấp tài khoá, phân tích lợi ích và chi phí; hiệu quả và hiệu suất. Qua đó người đọc có được cái nhìn tổng quát về các vấn đề tài chính công, các kỹ năng phân tích đánh giá tác động của chính sách tài chính công đến việc sử dụng, phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả [81]. Tài liệu của hai tác giả Trần Văn Tá và Bạch Thị Minh Huyền (1996) đã đề cập tới các các vấn đề về tài chính công, cải cách tài chính công, nội dung của tài chính công và tác động của nó tới việc cải cách nền hành chính của Việt Nam.
Các tác giả đã mang đến cho người đọc lượng kiến thức lớn về khái niệm, cơ chế, chính sách tài chính quốc gia và các giải pháp tài chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội [80]. Tài liệu của tác giả Phan Thị Cúc (2004) đã đề cập riêng một nội dung về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu. Tác giả đã trình bày rất chi tiết về cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, những tồn tại trong quá trình thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công, cũng như các nguồn lực đảm bảo chi của các đơn vị sự nghiệp [27]. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập và trong trường đại học công lập.
Các tài liệu nước ngoài nghiên cứu về quản lý hoạt động tài chính đơn vị sự nghiệp công lập và trường đại học công lập phải kể đến là cuốn sách của các tác giả Morgan, Eric and Powle, Malcolm (2004). Các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về tài chính, quản lý tài chính và phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học, đồng thời đưa ra các chiến lược kinh doanh để thu hút được nguồn lực và việc kiểm soát tài chính trong lĩnh vực giáo dục đại học của vương quốc Anh [14]. Tài liệu của tác giả Malcolm, P. (2005) đã nghiên cứu những ảnh hưởng của các điều kiện chính trị, văn hoá, kinh tế - xã hội tới quản lý tài chính của cơ sở giáo dục trong khu vực Châu Á, vai trò của việc hỗ trợ tài chính cũng như tác động của cơ chế chính sách của nhà nước đối với giáo dục đại học quốc gia.
Singapore và Malaysia được nghiên cứu như những điển hình khá thành công trong việc đưa nền giáo dục quốc gia đặc biệt là giáo dục đại học hội nhập tích cực, chủ động vào thế giới [15]. Nghiên cứu của tác giả Sulochana (1991) nhấn mạnh sự tham gia tích cực 8 của Ấn Độ vào thương mại dịch vụ giáo dục, sự thành công trong việc cung cấp giáo dục đại học cho người dân thông qua các nhà cung cấp công, tư nhân, và nước ngoài. Ấn Độ cũng đang củng cố năng lực xuất khẩu với sự trợ giúp của các nhà cung cấp nước ngoài, đặc biệt coi trọng việc quản lý tài chính trong giáo dục đại học, coi đây là nền tảng của sự phát triển kinh tế xã hội, đều hướng tới nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu của lĩnh vực này nhằm làm nền tảng cho sự tham gia của họ vào hoạt động xuyên biên giới. Cho đến nay, Ấn Độ vẫn tiếp tục thực hiện hoàn thiện mô hình quản lý tài chính theo mục đích này và xây dựng được cơ chế điều chỉnh phù hợp trong hoạt động quản lý giáo dục [19].
Tại Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu về quản lý hoạt động tài chính đơn vị sự nghiệp công và trường đại học công lập phải kể đến là cuốn sách của tác giả Phạm Minh Hạc (2002). Trong đó, tác giả đi sâu giới thiệu nền giáo dục của một số nước như Đức, Pháp, Hoa kì, Hàn quốc, Malaysia, Indonesia. Các vấn đề liên quan tới quản lý giáo dục, cải cách giáo dục và quản lý nguồn tài chính trong giáo dục của các nước cũng được tác giả đề cập tới. Đây là tài liệu hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, những người công tác trong ngành giáo dục, các học viên, nghiên cứu sinh đang nghiên cứu về vấn đề này [48].
Bài viết của tác giả Phạm Thị Ly (2011) đã trình bày tổng quát về những xu hướng quốc tế trong việc cung cấp tài chính cho hoạt động của đại học, vai trò của cơ chế giải trình trách nhiệm trong giải quyết mối tương quan giữa học phí và chất lượng đào tạo. Cơ chế giải trình trách nhiệm vừa là một động lực giúp cải thiện chất lượng hoạt động bên trong, vừa là một phương tiện minh chứng với bên ngoài về chất lượng hoạt động của nhà trường. Nếu như cơ chế giải trình trách nhiệm được thực hiện nghiêm túc thông qua những định chế thích hợp thì nhiều khả năng là nguồn lực của nhà trường sẽ được sử dụng một cách hiệu quả hơn cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển [55]. Một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động tài chính đơn vị sự nghiệp công lập phải kể đến là các luận án tiến sĩ.
Các nghiên cứu của các tác giả Đặng Văn Du (2004), Lê Phước Minh (2005), Vũ Thị Thanh Thủy (2012) đã đi phân tích khá kỹ về các chính sách tài chính cho giáo dục đại học, việc đầu tư tài chính cho giáo dục đào tạo đại học. Các tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính giáo dục đại học và nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính giáo dục đại học. Tuy nhiên, phạm vi và đối tượng 9 nghiên cứu của các đề tài này tập trung vào chính sách giáo dục đại học và hiệu quả đầu tư tài chính đối với giáo dục đại học nói chung cho nên là khá rộng nên nó có tính chất tham khảo đối với các trường đại học công lập [45] [58] [86]. Các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông phải kể đến luận án của các tác giả Phan Văn Sỹ (2015) và Nguyễn Thị Vân Anh (2015).
Các tác giả đã tập trung nghiên cứu và phân tích tình hình thực trạng về cơ chế quản lý tài chính trong giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh khu vực Tây Bắc, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho giáo dục phổ thông ở Hà Nội và khu vực Tây Bắc. Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu là các trường trung học phổ thông, hơn nữa cơ chế quản lý tài chính của giáo dục phổ thông lại có nhiều điểm khác so với giáo dục đại học nên không thể áp dụng hết vào cho giáo dục đại học [77][1]. Các nghiên cứu về quản lý tài chính ở ĐHQGHN phải kể tới luận án của tác giả Phạm Văn Ngọc (2007), Nguyễn Thị Hương (2014) và Nguyễn Anh Thái (2012). Các nghiên cứu này đã miêu tả một cách khá đầy đủ về cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN trong bối cảnh nền giáo dục đại học của Việt Nam đang có nhiều thay đổi.
Các tác giả đã đưa ra các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho ĐHQGHN nhằm đáp ứng mục tiêu, sứ mạng về đào tạo nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Tuy nhiên, các tác giả chưa đi sâu vào phân tích việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong ĐHQGHN và các điều kiện để đảm bảo thực hiện tính tự chủ đó. Mặt khác các luận án này được thực hiện khi Nghị định 16/2019NĐ - CP và Nghị định 60/2020/NĐ-CP chưa ra đời nên công tác tài chính trong các trường đại học thành viên vẫn còn bị bó hẹp và chưa có tính tự chủ cao [69] [49] [87].