Chương 1 : Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính của các doanh nghiệp. Chương 2 : Thực trạng quản lý tài chính của Công ty cô phần Đầu tư thương mại và dịch vụ SHC Việt nam. Chương 3 : Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tải chính của Công ty cổ phần Đầu tư thương mại và dịch vụ SHC Việt nam. co _ CHUONGI CO SO LY LUAN VA KINH NGHIEM VE QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CUA DOANH NGHIEP 1.
Một số vấn đề về tài chính doanh nghiệp 1. Quan niệm tài chính doanh nghiệp Xét về phương diện pháp lý, doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất - kinh doanh được thành lập và hoạt động trong khuôn khổ của luật doanh nghiệp hiện hành. Tuy nhiên, khi xem xét tài chính doanh nghiệp như là một khâu tài chính trong hệ thống tài chính quốc gia thì khái niệm doanh nghiệp ở đây được hiểu là tất cả các tô chức hoặc cá nhân có chức năng hoạt động sản xuất - kinh doanh. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan trong nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ. Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hệ thống tài chính. Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liễn với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gan lién với các hoạt động của doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải bảo đảm sự phối hợp về những hoạt động liên quan đến thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường lao động và tổ chức trong nội bộ doanh nghiệp, nhằm tao ra su tăng trưởng, đạt được ty suất lợi nhuận tối đa. Chính trong quá trình đó lam nay sinh hàng loạt quan hệ với các chủ thể khác thông qua sự vận động của vốn tiền tỆ. Thứ nhất, quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước : tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp thuế, lệ phí vào ngân sách Nhà nước. Thứ hai, quan hệ giữa doanh nghiệp với các định chế tài chính trung gian : các quan hệ này được thé hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tô chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng có thê đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác.
Thứ ba, quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tô chức xã hội khác trên thị trường: khi tiến hành hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tổ đầu vào cho sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, chỉ trả các dịch vụ. Quan hệ này rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau. Doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp với tư cách là người đi mua và với tư cách là người đi bán đã làm phát sinh quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường hang hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Thứ tư, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: đây là mối quan hệ tài chính, thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hoạch toán nội bộ doanh nghiệp.
Bao gồm các mối quan hệ tài chính sau: Quan hệ giữa doanh nghiệp mẹ, doanh nghiệp con. Quan hệ giữa những người đồng sở hữu, sáng lập doanh nghiệp thê hiện trong phạm vi góp vốn kinh doanh, phân chia cô tức từ kết quả hoạt động và chịu trách nhiệm tài chính về những hoạt động liên quan đến doanh nghiệp. Quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động trong việc phân phối thanh toán tiền công, khen thưởng, phúc lợi, để lại tái đầu tư. Như vậy, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nay sinh gắn liễn với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Đặc điểm tài chính doanh nghiệp Thứ nhất, hoạt động tài chính doanh nghiệp luôn hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động phức tạp và cần có su liên kết, thống nhất cao bởi nhiều yếu tố, kể cả yếu tố vật chất và yếu tố con người. Nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi đoanh nghiệp đều phải có vốn. Vốn là điều kiện không thê thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là số tiền ứng trước về toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh còn được coi là một quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh nghiệp. Vốn này được tạo lập từ nhiều nguồn như: vốn chủ sở hữu (vốn tự có), vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Nhằm thực hiện chức năng nói trên, trước hết đoanh nghiệp phải dự toán nhu cầu vốn, tiếp đến cần lựa chọn nguồn vốn phù hợp. Có nhiều vấn đề cần được giải quyết như: nên huy động vốn từ chủ sở hữu hay nên vay.
Cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu (vốn tự có) thế nào là tốt nhất. Nếu vay thì nên phát hành trái phiếu hay vay ở các tổ chức tín dụng, hay sử dụng phương thức tín dụng thuê mua, thời hạn và lãi suất vay. Thứ hai, hoạt động tài chính doanh nghiệp bị chỉ phối bởi tính chất sở hữu vốn trong mỗi doanh nghiệp. Vốn đóng góp ban đầu của các chủ sở hữu là khi doanh nghiệp mới được thành lập thì nguồn vốn chủ sở hữu hình thành vốn điều lệ do chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư góp vốn, được sử dụng để đầu tư, mua sắm các loại tài sản của doanh nghiệp.
Cách thức huy động nguồn vốn chủ sở hữu đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau, tùy theo đó là công ty cô phần, doanh nghiệp tư nhân, hay doanh nghiệp nhà nước. Đối với công ty cổ phần, vốn pháp định là vốn do các cô đông đóng góp và là yếu tố quyết định hình thành công ty. Trong doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp. Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ đoanh nghiệp.
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì có nguồn vốn chủ sở hữu khác nhau chẳng hạn: nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp (đối với các doanh nghiệp nhà nước), nguồn vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra trong các doanh nghiệp tư nhân, nguồn vốn liên doanh, liên kết, nguồn vốn từ phát hành cô phiếu, ngoài ra, nguồn vốn chủ sở hữu còn được bổ sung từ một số nguồn khác như lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính. Nguồn vốn tài trợ từ lợi nhuận sau thuế trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp có thể tăng nguồn vốn chủ sở hữu bằng hình thức tự tài trợ từ nguồn lợi nhuận được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp. Nguồn tài trợ này lệ thuộc rất nhiều vào quy mô lợi nhuận kiếm được trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tài trợ từ lợi nhuận sau thuế góp phần làm tăng vốn tự có của doanh nghiệp.
Vì vậy, vốn tự có của doanh nghiệp thường lớn hơn nhiều so với vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn bổ sung bằng cách kết nạp thêm các thành viên mới khi cần mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc loại hình công ty có thê huy động thêm vốn, kêu gọi thêm các nhà đầu tư mới thông qua phát hành cô phiếu mới. Thứ ba, hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang lại.
Lợi nhuận là kết quả tải chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác đưa lại, là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Lợi nhuận có vai trò quan trọng tới sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Đây chính là động lực thôi thúc doanh nghiệp năng động hơn nữa để khẳng định mình trong môi trường cạnh tranh gay gắt. 10 Lợi nhuận được coi là đòn bây kinh tế quan trọng, đồng thời là chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu qua sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng và tăng thêm nhu cầu phúc lợi trên cả bình diện xã hội và doanh nghiệp.