Phần mở đầu: Tổng quan nghiên cứu về đề tài Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về hiệu quả hoạt động tài chính Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tài chính tại Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1 Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính cho Công ty Cổ Phần Xây Dựng Số 1 đến năm 2020 Phần kết luận 123doc 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP: 1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định. (Lê Thanh Hảo, 2011) Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống tài chính, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất. (Lê Thanh Hảo, 2011) Tài chính doanh nghiệp là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế dưới dạng tiền gắn liền với việc hình thành vốn, phân phối, sử dụng, và quản lý vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.2 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.
(Nguồn: Thư viện Học liệu Mở Việt Nam) Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu số liệu, so sánh số liệu về tài chính thực có của doanh nghiệp với quá khứ để định hướng trong tương lai. Từ đó, có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp và tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cường các hoạt động kinh tế và còn là căn cứ quan trọng phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế 123doc 6 phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (Nguồn: Thư viện Học liệu Mở Việt Nam) Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.
Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp.3 Khái niệm hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp: a. Phân biệt hiệu quả và hiệu suất: Giống nhau: Hiệu quả và hiệu suất đều được xác định dựa vào kết quả đạt được của quá trình thực hiện. Khác nhau: Chỉ tiêu Hiệu quả Hiệu suất Kết quả đạt được/Mục tiêu đề Cơ sở xác định Kết quả đạt được/Chi phí bỏ ra ra Cơ sở đánh giá Mức độ thực hiện mục tiêu Cách thức thực hiện mục tiêu Mục đích Làm đúng việc Làm đúng cách Tầm quan trọng Quan trọng hơn Ít quan trọng trong quản trị Mục tiêu đúng, mức độ phù Phương tiện thích hợp, cách Yếu tố cấu thành hợp và kế hoạch hợp lý thức phù hợp và quản lý hợp lý (Nguồn: Thư viện 24h.
Hiệu quả hoạt động tài chính: Hiệu quả tài chính phản ánh kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp được đo lường thông qua chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE. (Lê Thanh Hảo, 2011) Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính là quá trình phân tích tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp để lựa chọn được phương pháp quản trị tối ưu nhằm nâng cao kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.2 PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP: 1.1 Phƣơng pháp so sánh: Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu để phân tích hoạt động kinh tế nhằm xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu kinh tế cần phân tích. Chính vì thế, để có thể tiến hành so sánh các chỉ tiêu ta phải đảm bảo được sự thống nhất đồng bộ về mặt thời gian, không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính, đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Khi nghiên cứu mức độ biến động, tốc độ tang trưởng của các chỉ tiêu kinh tế so với chỉ tiêu gốc thì ta có thể xác định một cách tuyệt đối hoặc tương đối.
Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, gốc so sánh được lựa chọn là gốc về thời gian và không gian. Đối tượng so sánh: ta có thể so sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, số liệu của doanh nghiệp mình với số liệu của các doanh nghiệp khác trong ngành để nhận định được thực trạng của doanh nghiệp. Phạm vi so sánh: so sánh theo chiều dọc để xem tỉ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang giữa các kỳ báo cáo để thấy được sự biến động thay đổi của từng chỉ tiêu kinh tế theo thời gian.2 Phƣơng pháp tỷ số: 1.1 Nhóm tỷ số thanh khoản: Nhóm tỷ số thanh khoản đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Năng lực thanh toán của doanh nghiệp là năng lực trả được nợ đáo hạn của các loại tiền nợ của doanh nghiệp, là một tiêu chí quan trọng phản ánh tình hình tài chính và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá một mặt quan trọng về hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, thông qua việc đánh giá và phân tích về mặt này có thể thấy rõ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp Năng lực tài chính thấp không những chứng tỏ doanh nghiệp bị căng thẳng về tiền vốn, không có đủ tiền để chi tiêu trong việc kinh doanh hàng ngày, mà còn chứng tỏ sự quay vòng của đồng vốn không nhanh nhạy, khó có thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn, thậm chí doanh nghiệp có thể đứng trước nguy cơ bị phá sản.
Vì trong quá trình kinh doanh, chỉ cần mức thu lợi của tiền đầu tư lớn hơn lãi suất vốn vay sẽ có lợi cho cổ đông nhưng vay nợ quá nhiều sẽ làm tăng rủi ro của doanh nghiệp. Vay vốn để kinh doanh có thể làm tăng lợi nhuận của cổ phiếu từ đó làm tăng giá trị cổ phần của doanh nghiệp, nhưng rủi ro tăng lên thì trên mức độ nào đó cũng làm giảm giá trị cổ phần. Năng lực thanh toán của doanh nghiệp gồm: thanh toán nợ ngắn hạn và thanh toán nợ dài hạn, trong đó nợ trung và dài hạn chủ yếu là cùng tiền lãi trong quá trình kinh doanh để thanh toán. Nợ ngắn hạn chủ yếu là trông vào năng lực lưu động và tài sản lưu động của doanh nghiệp làm đảm bảo.
Việc đánh giá năng lực thanh toán của doanh nghiệp phải bao gồm cả hai mặt: đánh giá năng lực thanh toán nợ ngắn hạn và năng lực thanh toán nợ dài hạn. Năng lực thanh toán nợ ngắn hạn là năng lực chi trả các khoản nợ ngắn hạn. Các khoản nợ ngắn hạn còn được gọi là các khoản nợ lưu động, tức là các khoản nợ có thời hạn trong vòng một năm. Loại nợ này phải thanh toán bằng tiền mặt hoặc các tài sản lưu động khác.
Các khoản nợ này có rủi ro cao đối với tài chính của doanh nghiệp. Nếu không thanh toán đúng hạn thì sẽ làm cho doanh nghiệp phải đứng trước nguy cơ vỡ nợ. Trong bảng cân đối tài sản, các khoản nợ ngắn hạn và tài 123doc 9 sản lưu động có quan hệ đối ứng, phải dùng tài sản lưu động để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số luân chuyển tài sản lưu động (tỷ số thanh toán hiện hành): Tỷ số này được xác định bằng công thức: Trong đó, tài sản lưu động bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng, các khoản phải thu và tồn kho.
Còn nợ ngắn hạn bao gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác. Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời gian nhất định - thường là một năm. Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó. Tỷ số này có được chấp thuận hay không tuỳ thuộc vào sự so sánh với giá trị trung bình của ngành và so sánh với các tỷ số của năm trước.
Khi giá trị của tỷ số này giảm có nghĩa là khả năng trả nợ của doanh nghiệp giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng. Ngược lại, khi giá trị của tỷ số này cao hơn, có nghĩa là khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp tăng, là dấu hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, khi giá trị của tỷ số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động. Điều này có thể do sự quản trị tài sản lưu động còn chưa hiệu quả nên còn quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hoặc do quá nhìều nợ phải đòi v.v…làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nói chung, tỷ số luân chuyển tài sản lưu động hay tỷ số thanh toán hiện hành trong khoảng 1 – 2 là vừa, nhưng trong thực tế khi phân tích tỷ số này cần kết hợp với đặc điểm ngành nghề khác nhau và các yếu tố khác như: cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp, năng lực biến động thực tế của tài sản lưu động. Có ngành có tỷ số 123doc 10 này cao, nhưng cũng có ngành nghề có tỷ số này thấp, không thể nói chung chung được và cũng không thể dựa vào kinh nghiệm được….